Chào mừng các bạn đến với Website Tỉnh đoàn Bến Tre

Hành trình Sức trẻ Đồng Khởi - Năm Thanh niên tình nguyện 2014 "Đoàn kết, sáng tạo, xung kích, tình nguyện, lan tỏa, hiệu quả, thiết thực". -----------------------------------------Nhiệt liệt chào mừng Đại hội đại biểu Hội LHTN Việt Nam tỉnh Bến Tre lần thứ V tiến tới Đại hội đại biểu Hội LHTN Việt Nam toàn quốc lần thứ VII, Nhiệm kỳ 2014 - 2019!                        Nhiệt liệt chào mừng kỷ niệm 70 năm Ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam (22/12/1944-22/12/2014) và 25 năm Ngày Quốc phòng toàn dân (22/12/1989-22/12/2014)!

Vị trí Đề cương tuyên truyền Tài liệu tuyên truyền 50 năm Đường Hồ Chí Minh trên Biển



Tài liệu tuyên truyền 50 năm Đường Hồ Chí Minh trên Biển PDF. In bài viết Email
Đề cương tuyên truyền
Tác giả: Ban Tuyên Giáo Tỉnh Đoàn   
Ngày tạo: 08-09-2011 08:08
Chỉ mục bài viết
Tài liệu tuyên truyền 50 năm Đường Hồ Chí Minh trên Biển
Trang 2
Trang 3
Trang 4
Tất cả các trang

Tháng 6 năm 1954, Mỹ đưa Ngô Đình Diệm về Sài Gòn, lập Chính phủ bù nhìn đồng thời thành lập phái đoàn quân sự đặc biệt của Mỹ (SMM) và “khẩn cấp” tăng cường viện trợ kinh tế và quân sự cho chính quyền Ngô Đình Diệm; được Mỹ hậu thuẫn, tháng 5 năm 1959, Ngô Đình Diệm ban hành Luật phát xít 10/59 và Luật số 21, lê máy chém đi khắp miền Nam, gây nên những vụ giết người man rợ.

Trước tình hình đó, Hội nghị lần thứ 15 Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khoá II) họp tại Hà Nội, xác định nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới, Nghị quyết xác định con đường giải phóng miền Nam là “Con đường cách mạng bạo lực”. Theo Chỉ thị của Bộ Chính trị, tháng 5 năm 1959, Tổng Quân uỷ Trung ương quyết định thành lập Phòng nghiên cứu hoạt động chi viện quân sự cho miền Nam.

Thực hiện chủ trương của Đảng và Quân uỷ Trung ương, ngày 19 tháng 5 năm 1959, “Đoàn công tác quân sự đặc biệt” (đơn vị tiền thân của Đoàn 559) được thành lập. Ngày 1 tháng 6 năm 1959, Tiểu đoàn 301 trực thuộc “Đoàn 559” ra đời, tiểu đoàn có nhiệm vụ mở tuyến vận tải xuyên Trường Sơn để chi viện vũ khí, trang bị, lực lượng cho chiến trường miền Nam. Đến tháng 7 năm 1959, Tiểu đoàn 603 được thành lập, có nhiệm vụ nghiên cứu tìm phương thức vận chuyển bằng đường biển chi viện vũ khí cho chiến trường miền Nam; Tiểu đoàn gồm 107 cán bộ, chiến sỹ, biên chế thành 2 đại đội, đóng quân tại thôn Thanh Khê, xã Thanh Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Để giữ bí mật, Tiểu đoàn lấy tên là “Tập đoàn đánh cá Sông Gianh”; được sự giúp đỡ của nhân dân và các lực lượng vũ trang địa phương, Tiểu đoàn nhanh chóng ổn định nơi ăn, ở và tích cực chuẩn bị mọi mặt cho chuyến vượt biên đầu tiên vào Khu V. Phương tiện vận tải ban đầu của đơn vị là 4 chiếc thuyền gỗ, mỗi chiếc trọng tải từ 15 đến 20 tấn; thuyền có 2 đáy, phía dưới để vũ khí, phía trên để lưới và dụng cụ đánh cá, cải trang thành thuyền buồm đánh cá miền Nam.

Sau khi chuẩn bị cơ sở vật chất, các đại đội tranh thủ ra khơi “đánh cá”, thực chất là tập luyện; tập kéo lưới, tập chịu đựng sóng gió, tập lấy phương hướng theo sao, theo địa hình; ban đầu tập gần bờ, sau đó xa bờ, tập ra khơi. Cùng với tập luyện, đơn vị tổ chức đợt sinh hoạt chính trị, bồi dưỡng lập trường giai cấp, tinh thần dũng cảm, xây dựng ý chí quyết tâm cho cán bộ, chiến sỹ và quán triệt phương án chiến đấu: nếu đưa được hàng vào bến an toàn, sẽ tìm cách huỷ tàu và đi theo đường bộ để trở lại đơn vị; nếu lạc đường, lạc hướng thì thả hàng xuống biển để giữ bí mật, trường hợp bị địch bắt cho nổ mìn phá thuyền.

Cuối năm 1959, công tác chuẩn bị cho vận chuyển đã cơ bản hoàn thành; Đại đội 1, Tiểu đoàn 603 tổ chức chuyến thuyền vượt biển đầu tiên; nhiệm vụ của chuyến vận tải này là: chở 5 tấn vũ khí và thuốc chữa bệnh cho chiến trường Khu V; địa điểm cập bến là chân đèo Hải Vân. Tham gia chuyến đầu tiên gồm 6 người: đồng chí Nguyễn Bất, đại đội trưởng Đại đội 1 làm thuyền trưởng; đồng chí Trần Mức làm thuyền phó; 4 thành viên còn lại là: Huỳnh Ba, Nguyễn Sanh, Huỳnh Sơn, Nguyễn Nữ. Để giữ bí mật, lợi dụng lúc thời tiết xấu, gió mùa đông bắc, 18 giờ ngày 27 tháng 1 năm 1960 (tức 30 Tết Canh Tý) thuyền nhổ neo; đêm đầu tiên, thuyền chạy thẳng ra vùng biển quốc tế, với ý định từ đó sẽ đi dần vào chân đèo Hải Vân; ngày hôm sau gió to, sóng lớn, thuyền có nguy cơ bị lật, 6 người kiên trì chèo chống nhưng thuyền vẫn cứ dạt về phía Nam và bị gãy một lái; đến ngày thứ 3, thuyền trôi vào Cù Lao Ré (Quảng Ngãi), mọi người định chèo thuyền ngược ra thì tay lái còn lại gãy nốt; lúc này gió bắt đầu lặng, tàu tuần tiễu của địch và tàu đánh cá của dân ra biển ngày một đông, nếu ở vùng biển này lâu sẽ bị lộ; để giữ bí mật, thuyền trưởng Nguyễn Bất quyết định phải cho huỷ 5 tấn súng đạn và thuốc chữa bệnh xuống biển để xóa dấu vết. Tuy không có chứng cớ rõ ràng, nhưng 6 thủy thủ của ta vẫn bị địch bắt đưa đi giam ở các khu vực để tra tấn, khai thác, 5 thủy thủ đã hy sinh, chỉ duy nhất đồng chí Huỳnh Ba còn sống (được trao trả năm 1974).

Chuyến đi đầu tiên không thành công, nhận thấy việc dùng thuyền gỗ, chạy bằng buồm, chở vũ khí vào chiến trường bằng đường biển có rất nhiều khó  khăn và không an toàn, Quân ủy Trung ương quyết định cho Tiểu đoàn 603 ngừng hoạt động. Trong khi chờ đợi trên tìm phương án mới, Tiểu đoàn 603 giải thể, các đại đội chuyển về Tiểu đoàn 301 làm nhiệm vụ mở đường Trường Sơn.

Đầu năm 1960, cùng với Phong trào Đồng khởi Bến Tre, cách mạng của các tỉnh đồng bằng Nam Bộ chuyển mạnh lên thế tiến công và trở thành cao trào đồng khởi rộng khắp; trước tình hình đó, yêu cầu về vũ khí trang bị, đạn và thuốc chữa bệnh trở thành vấn đề sống còn, để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chiến đấu và phát triển lực lượng của các tỉnh Nam Bộ và Nam Trung Bộ. Yêu cầu cấp bách là phải nhanh chóng vận chuyển vũ khí, hàng hóa để chi viện cho chiến trường Nam Bộ; lúc này, tuyến đường bộ trên dãy Trường Sơn đã mở và hoạt động có hiệu quả, nhưng chưa vươn tới các địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng. Tổng Quân ủy tiếp tục chỉ đạo Bộ Tổng Tham mưu khẩn trương nghiên cứu đề án mới về xây dựng và tổ chức lực lượng vận tải biển chi viện cho chiến trường Nam Bộ và Khu V.

Trong khi chưa có lực lượng để làm nhiệm vụ vận chuyển trên biển chi viện cho miền Nam, Bộ Chính trị chỉ thị cho Trung ương Cục miền Nam chỉ đạo các tỉnh ven biển ở miền Trung và Nam Bộ chủ động chuẩn bị bến, bãi và tổ chức đưa thuyền vượt biển ra miền Bắc, vừa thăm dò, nắm tình hình địch, nghiên cứu tuyến vận chuyển trên biển, vừa nhận vũ khí để kịp thời cung cấp cho phong trào đấu tranh cách mạng ở miền Nam đang phát triển.

Giữa năm 1961, Tỉnh Bạc Liêu điều hai thuyền ra Bắc (còn gọi là Đội thuyền Cà Mau); thuyền thứ nhất do đồng chí Bông Văn Dĩa (Hai Dĩa) phụ trách, rời rạch Cá Mòi (Mũi Cà Mau) bắt đầu chuyến hành trình vượt biển ra Bắc, ngày 7 tháng 8 năm1961 cập bến tại cửa sông Nhật Lệ (Quảng Bình); thuyền thứ hai do đồng chí Nguyễn Thanh Trầm (Tư Lưới) phụ trách, ngày 3 tháng 8 năm 1961 xuất phát, khi đi ngang qua Huế thì thuyền bị thủng, phải quay trở lại Cà Mau để sửa chữa.

Tỉnh Trà Vinh thành lập 1 khung cán bộ để đưa thuyền ra Bắc, do đồng chí Hồ Văn In (Bảy Thắng) làm thuyền trưởng, đồng chí Nguyễn Thanh Lồng (Hai Tranh) làm Chính trị viên; ngày 3 tháng 8 năm 1961 thuyền xuất phát, ra tới Nha Trang gặp bão; sóng to, gió lớn thuyền trôi dạt sang Ma Cao (Trung Quốc) sau đó đi trở lại hướng Tây Nam; ngày 15 tháng 8 năm 1961, thuyền bị Bộ đội Biên phòng Trung Quốc giữ và đưa về Du Hải - Quảng Châu; ngày 16 tháng 8 năm 1961 đại diện Đại sứ quán Việt Nam đón và đưa anh em về Hà Nội, còn thuyền thì Bạn cho Tàu Nam Hải 136 chở sang bàn giao cho Ty Thủy sản Hải Phòng.

Tỉnh Bến Tre tổ chức hai thuyền ra Bắc, thuyền thứ  nhất do đồng chí Đặng Bá Tiên (Sáu Giáo) làm thuyền trưởng. 16 giờ ngày 17 tháng 8 năm 1961 thuyền xuất phát, sau 8 ngày đêm hành trình, vật lộn với sóng, gió và né tránh sự kiểm soát của địch; ngày 24 tháng 8 năm 1961, thuyền đã chở 6 anh em cập vào bến Hà Tĩnh; thuyền thứ hai do đồng chí Lê Công Cẩn (Năm Công) phụ trách, ngày 28 tháng 8 năm 1961, thuyền cập vào bến Thanh Hóa.

Mặc dù gặp nhiều khó khăn, bất trắc, nhưng thuyền của tỉnh Bà Rịa do đồng chí Nguyễn Sơn (Nguyễn Văn Phe) xã đội trưởng xã Phước Hải làm thuyền trưởng, đồng chí Lê Hà (Lê Văn Mây) làm thuyền phó, ngày 15 tháng 5 năm 1962 cũng ra đến miền Bắc an toàn.

Như  vậy, từ giữa năm 1961 đến giữa năm 1962, 5 thuyền của địa bàn Nam Bộ đã ra tới miền Bắc; những người con kiên trung của thành đồng Tổ quốc (trong đó có 18 đảng viên) đã vinh dự được Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bí thư thứ nhất BCHTW Đảng Lê Duẩn và các đồng chí trong Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương gặp mặt, ân cần thăm hỏi, động viên.

Những chuyến thuyền từ Nam Bộ vượt biển ra Bắc thành công là một trong những cơ sở quan trọng để xúc tiến việc thành lập đoàn vận tải thủy tiếp tế vũ khí cho miền Nam. Ngày 23 tháng 10 năm 1961, Bộ Tổng Tư lệnh ra Quyết định số 97/QP do Thứ trưởng Hoàng Văn Thái ký thành lập Đoàn 759 vận tải thuỷ, đồng chí Đoàn Hồng Phước làm đoàn trưởng; Cơ quan của Đoàn gồm có Ban Tham mưu, Ban Chính trị, Ban Hậu cần; lực lượng của Đoàn ban đầu có 38 cán bộ, chiến sĩ, trong đó có 20 đồng chí thuộc các thuyền của Bến Tre, Trà Vinh và Liên khu V vừa điều ra. Đoàn có nhiệm vụ mua sắm phương tiện, vận chuyển tiếp tế cho chiến trường miền Nam bằng đường biển. Đoàn đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Bộ Tổng Tư lệnh, lấy nhà số 83 Lý Nam Đế (Hà Nội) làm trụ sở. Cuối năm 1961, đề án công tác của Đoàn đã được Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh thông qua; ngày 12 tháng 2 năm 1962, Tổng cục Chính trị có Quyết định số 09/QĐ thành lập Đảng uỷ Đoàn 759 do đồng chí Phạm Thái Hoà làm Bí thư.

Quyết định thành lập Đoàn 759 thể hiện tầm nhìn chiến lược và sáng tạo của Bộ Chính trị mà trực tiếp là Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh, sự ra đời của Đoàn 759 đánh dấu mốc lịch sử quan trọng, mở ra bước phát triển mới của tuyến đường vận tải chiến lược trên biển. Ngày 23 tháng 10 trở thành ngày truyền thống của Đoàn 759 trước đây, Lữ đoàn 125 Hải quân ngày nay, đồng thời là ngày Mở đường Hồ Chí Minh trên biển.



Cập nhật ngày