Chào mừng các bạn đến với Website Tỉnh đoàn Bến Tre

Nhiệt liệt chào mừng Đại hội Đoàn các cấp tiến tới Đại hội đại biểu Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tỉnh Bến Tre lần thứ X, nhiệm kỳ 2017-2022               Tuổi trẻ Bến Tre phấn đấu rèn luyện trở thành người thanh niên Đồng Khởi mới "Yêu nước - Bản lĩnh - Hiếu thảo - Tình nguyện"

Đề cương tuyên truyền



Đề cương tuyên truyền
Chương trình tín dụng đối với khách hàng là cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang PDF. In bài viết Email
Đề cương tuyên truyền
Tác giả: Ban TNNT CN&DT Tỉnh đoàn   
Nhằm đáp ứng nhu cầu vốn tiêu dùng nâng cao đời sống cho đối tượng cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang, Ngân hàng Bưu Điện Liên Việt – chi nhánh Bến Tre triển khai chương trình cho vay vốn tiêu dùng với nhiều tiện ích như sau: -        Hạn mức cho vay lên đến 20 lần mức lương thực lĩnh…
 
Cơ chế, chính sách khoa học và công nghệ hỗ trợ doanh nghiệp PDF. In bài viết Email
Đề cương tuyên truyền
Tác giả: Ban TNNT tổng hợp   

ỦY BAN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TỈNH BẾN TRE

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 22/2014 /QĐ-UBND

Bến Tre, ngày 30 tháng 7  năm 2014

QUYẾT ĐỊNH

Ban hành Quy chế quản lý và định mức hỗ trợ các nội dung thuộc Dự án

“Nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Bến Tre giai đoạn 2013 – 2020”


UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE

Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân ngày 26 tháng 11 năm 2003;

Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân ngày 03 tháng 12 năm 2004;

Căn cứ Nghị định số 119/1999/NĐ-CP ngày 18 tháng 9 năm 1999 của Chính phủ về một số chính sách khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động khoa học và công nghệ;

Căn cứ Thông tư liên tịch số 22/2011/TTLT-BTC-BKHCN ngày 21 tháng 2 năm 2011 của Bộ Tài chính - Bộ Khoa học và Công nghệ hướng dẫn quản lý tài chính đối với các dự án sản xuất thử nghiệm được ngân sách nhà nước hỗ trợ kinh phí;

Căn cứ Thông tư liên tịch số 112/2011/TTLT-BTC-BKHCN ngày 02 tháng 8 năm 2011 của Bộ Tài chính - Bộ Khoa học và Công nghệ về việc hướng dẫn quản lý tài chính đối với “Chương trình hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ giai đoạn 2011 – 2015”;

Căn cứ Thông tư liên tịch số 130/2011/TTLT-BTC-BKHCN ngày 16 tháng 9 năm 2011 của Bộ Tài chính - Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chế độ quản lý tài chính đối với các nhiệm vụ thuộc Chương trình quốc gia “Nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hoá của doanh nghiệp Việt Nam đến năm 2020”;

Xét đề nghị của Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tại Tờ trình số 975/TTr-SKHCN ngày 23 tháng 7 năm 2014,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Quy chế quản lý và định mức hỗ trợ các nội dung thuộc Dự án “Nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Bến Tre giai đoạn 2013 – 2020”.

Điều 2. Giao Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ chủ trì phối hợp với các sở, ban, ngành có liên quan, Chủ tịch Ủy ban nhân các huyện, thành phố tổ chức triển khai thực hiện Quyết định này.

Điều 3. Chánh Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ, Chủ tịch Uỷ ban nhân các huyện, thành phố, Thủ trưởng các ngành, các ông (Bà) được mời tham gia có trách nhiệm thi hành Quyết định này.

Quyết định này có hiệu lực sau 10 (mười) ngày kể từ ngày ký ban hành và thay thế Quyết định số 15/2009/QĐ-UBND ngày 01 tháng 9 năm 2009 của Uỷ ban nhân dân tỉnh về việc ban hành Quy chế quản lý các chương trình thuộc Đề án Hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng suất chất lượng và hội nhập tỉnh Bến Tre giai đoạn 2008-2010 và đến 2015./.

Nơi nhận:

- Như Điều 3 (để thực hiện);

- Các Bộ: KH&CN, Tài chính;

- TT.TU, TT.HĐND tỉnh;

- Cục kiểm tra VBQPPL- Bộ Tư pháp;

- Đoàn Đại biểu QH tỉnh;

- UB MTTQ Việt Nam tỉnh;

- CT, các PCT UBND tỉnh;

- Chánh, PCVPUBND tỉnh;

- Sở Tư Pháp (tự kiểm tra);

- Website Chính phủ;

- Website tỉnh;

- Phòng Tiếp dân (niêm yết);

- Trung tâm Công báo tỉnh;

- Báo Đồng Khởi, Đài PTTH Bến Tre;

- Ng/c VHXH, TH, TTTH;

-Lưu: VT.

TM. UỶ BAN NHÂN DÂN

CHỦ TỊCH

(đã ký)

Võ Thành Hạo



ỦY BAN NHÂN DÂN

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc




QUY CHẾ

Quản lý và định mức hỗ trợ các nội dung thuộc Dự án “Nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp nhỏ và vừa

tỉnh Bến Tre giai đoạn 2013 – 2020”

(Ban hành kèm theo Quyết định số 22 /2014/QĐ-UBND  ngày 30  tháng 7  năm 2014

của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre)


Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh, đối tượng và ngành nghề được hỗ trợ

  1. Phạm vi điều chỉnh

Quy chế này quy định việc quản lý và định mức hỗ trợ các nội dung thuộc dự án “Nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Bến Tre giai đoạn 2013-2020”. Dự án được phê duyệt theo Quyết định số 1908/QĐ-UBND ngày 21 tháng 10 năm 2013 của Uỷ ban nhân dân tỉnh về việc phê duyệt dự án “Nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Bến Tre giai đoạn 2013-2020”.

Các nội dung được hỗ trợ gồm có: xây dựng, áp dụng và chứng nhận các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến, các công cụ nâng cao năng suất và chất lượng; tham gia giải thưởng Chất lượng Quốc gia; chứng nhận sản phẩm hợp chuẩn, hợp quy; xác lập, khai thác và phát triển quyền sở hữu công nghiệp; đổi mới công nghệ; áp dụng công nghệ tiên tiến nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm hàng hóa, tiết kiệm năng lượng, hạn chế ô nhiễm môi trường.

Kinh phí hỗ trợ từ ngân sách nhà nước cho các tổ chức, cá nhân theo quy chế này là kinh phí hỗ trợ không thu hồi.

2. Đối tượng được hỗ trợ

a) Doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế được thành lập theo Luật doanh nghiệp, có quy mô nhỏ và vừa theo quy định tại Điều 3 Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2009 của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa;

b) Hợp tác xã, Liên hiệp hợp tác xã, Làng nghề, Hội, Hiệp hội;

c) Cá nhân và tổ chức có sáng chế/giải pháp hữu ích; các tác giả tham gia đạt giải Hội thi sáng tạo kỹ thuật của tỉnh cần được bảo hộ sở hữu công nghiệp.

(Sau đây các đối tượng trên được gọi tắt là doanh nghiệp)

3. Ngành nghề được hỗ trợ

a) Ngành nghề sản xuất sản phẩm, hàng hóa thuộc các ngành công nghiệp mũi nhọn, công nghiệp ưu tiên theo Quyết định 1895/QĐ-UBND ngày 04 tháng 10 năm 2012 của Uỷ ban nhân dân tỉnh phê duyệt Đề án định hướng phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn, công nghiệp ưu tiên trên địa bàn tỉnh Bến Tre giai đoạn 2011-2020 và một số chính sách khuyến khích phát triển.

b) Ngành nghề sản xuất các sản phẩm truyền thống, sản phẩm đặc thù của tỉnh. (Phụ lục 1 ban hành kèm theo)

4. Điều kiện hỗ trợ

a) Là đối tượng phù hợp với quy định ở khoản 2 Điều 1 của Quy chế này  và không có vốn đầu tư nước ngoài.

b) Có ngành nghề phù hợp với quy định ở khoản 3 Điều 1 của Quy chế này.

c) Chưa nhận hỗ trợ với cùng nội dung từ nguồn kinh phí khác của nhà nước.

d) Hoàn thành nghĩa vụ thuế đối với nhà nước theo quy định.

đ) Có đủ năng lực để thực hiện thành công nội dung đăng ký hỗ trợ.

Điều 2. Giải thích từ ngữ

1. Dự án “Nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hoá của doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Bến Tre giai đoạn 2013-2020” (sau đây gọi tắt là Dự án năng suất và chất lượng) là dự án thuộc Chương trình quốc gia “Nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hoá của doanh nghiệp Việt Nam đến năm 2020”, do Uỷ ban nhân dân tỉnh chủ trì thực hiện.

2. Dự án thành phần là các dự án xây dựng, áp dụng công cụ cải tiến năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hoá của doanh nghiệp; dự án xây dựng và phát triển nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận, chỉ dẫn địa lý cho các sản phẩm truyền thống, đặc thù của tỉnh; dự án đổi mới công nghệ, áp dụng công nghệ tiên tiến do doanh nghiệp chủ trì thực hiện.

3. Các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến

a) ISO 9001 (International Organization for Standardization): Hệ thống quản lý chất lượng nhằm đảm bảo cung cấp sản phẩm đáp ứng yêu cầu khách hàng và thường xuyên nâng cao sự thoả mãn của khách hàng.

b) ISO 22000 (International Organization for Standardization): Hệ thống quản lý chất lượng về an toàn thực phẩm nhằm quản lý tốt an toàn vệ sinh thực phẩm, đảm bảo cung cấp các sản phẩm thực phẩm an toàn, chất lượng cho người tiêu dùng.

c) SQF (Safe Quality Food): Hệ thống quản lý và phòng ngừa những rủi ro bao gồm các kết quả của việc thực hiện và vận hành kế hoạch SQF nhằm bảo đảm cho an toàn và chất lượng trong doanh nghiệp thực phẩm.

d) HACCP (Hazard Analysis and Critical Control Points): Hệ thống phân tích mối nguy và kiểm soát điểm tới hạn. Hệ thống quản lý mang tính phòng ngừa nhằm đảm bảo an toàn thực phẩm thông qua nhận diện, đánh giá và kiểm soát các mối nguy hiểm ảnh hưởng đến an toàn thực phẩm trong quá trình sản xuất.

đ) GMP (Good Manufacturing Practices): Tiêu chuẩn thực hành sản xuất tốt.

e) GAP (Good Agriculture Practices): Tiêu chuẩn thực hành sản xuất nông nghiệp tốt.

4. Các công cụ cải tiến năng suất và chất lượng

a) 5S (Seiri - Sàng lọc, Seiton - Sắp xếp, Seiso - Sạch sẽ, Sheiketsu - Săn sóc, Shitsuke - Sẵn sàng): Công cụ cải tiến năng suất và chất lượng nhằm tạo nên và duy trì một môi trường làm việc thuận tiện, nhanh chóng, chính xác và hiệu quả tại mọi vị trí làm việc.

b) Kaizen: Công cụ trong quản lý được áp dụng nhằm thúc đẩy hoạt động cải tiến liên tục với sự tham gia của mọi người nhằm cải thiện không ngừng môi trường làm việc, mang lại hiệu quả cao trong việc nâng cao chất lượng công việc, nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ và giảm chi phí hoạt động.

c) TPM (Total Productive Maintenaince): Công cụ duy trì năng suất tổng thể nhằm tối đa hóa hiệu suất thiết bị, nâng cao năng suất với một hệ thống bảo trì được thực hiện trong suốt vòng đời của thiết bị.

d) Lean 6 Sigma: Mô hình quản lý kết hợp có chọn lọc giữa phương pháp sản xuất tinh gọn và phương pháp quản lý nhằm cải thiện các qui trình sao cho các vấn đề khuyết tật và lỗi không xảy ra.

5. Giải thưởng Chất lượng Quốc gia là hình thức tôn vinh, khen thưởng ở cấp quốc gia do Thủ tướng Chính phủ tặng cho các tổ chức, doanh nghiệp có thành tích xuất sắc trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ theo các tiêu chí của giải thưởng Chất lượng Quốc gia.

6. Quyền Sở hữu công nghiệp theo quy định tại khoản 4 Điều 4 của Luật Sở hữu trí tuệ.

7. Hoạt động đổi mới công nghệ, áp dụng những công nghệ tiên tiến

a) Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm.

b) Công nghệ mới là công nghệ lần đầu tiên được tạo ra tại Việt Nam.

c) Công nghệ tiên tiến là công nghệ hàng đầu, có trình độ công nghệ cao hơn trình độ công nghệ cùng loại hiện có.

d) Sản xuất thử nghiệm là hoạt động ứng dụng kết quả triển khai thực nghiệm để sản xuất thử ở quy mô nhỏ nhằm hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới trước khi đưa vào sản xuất và đời sống.

đ) Chợ công nghệ, hội chợ công nghệ, triển lãm công nghệ, trung tâm giao dịch công nghệ là nơi trưng bày, giới thiệu, mua bán công nghệ, xúc tiến chuyển giao công nghệ và cung cấp các dịch vụ khác về chuyển giao công nghệ.

Chương II

NỘI DUNG, MỨC HỖ TRỢ VÀ THỦ TỤC PHÊ DUYỆT HỒ SƠ

Điều 3. Hỗ trợ dự án xây dựng, áp dụng công cụ cải tiến năng suất và chất lượng

1. Nội dung hỗ trợ

Hỗ trợ kinh phí đào tạo, tư vấn cho doanh nghiệp áp dụng các công cụ cải tiến năng suất và chất lượng như: 5S, Kaizen, TPM, Lean 6 Sigma hoặc các công cụ cải tiến năng suất và chất lượng khác.

2. Mức hỗ trợ

a) Hỗ trợ 50% kinh phí đào tạo, tư vấn áp dụng các công cụ cải tiến năng suất và chất lượng cho doanh nghiệp, nhưng không quá 25 (hai mươi lăm) triệu đồng cho một công cụ. Mỗi doanh nghiệp được hỗ trợ tối đa hai công cụ/năm.

b) Đối với doanh nghiệp được chọn làm mô hình điểm để nhân rộng việc áp dụng công cụ cải tiến năng suất và chất lượng, là nơi để thực hành cho lớp đào tạo chuyên gia tư vấn về năng suất và chất lượng của tỉnh: Hỗ trợ 100% kinh phí đào tạo, tư vấn áp dụng công cụ cải tiến năng suất và chất lượng, nhưng không quá 50 (năm mươi) triệu đồng cho một công cụ. Mỗi doanh nghiệp được hỗ trợ tối đa hai công cụ.

3. Thành phần hồ sơ

a) Hồ sơ đề nghị hỗ trợ (gồm 5 bộ)

- Phiếu đăng ký tham gia dự án theo Biểu mẫu 01/ĐK-TĐC (Phụ lục 2 ban hành kèm theo);

- Bản sao Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc quyết định thành lập đối với các tổ chức (có chứng thực);

- Thuyết minh dự án xây dựng, áp dụng các công cụ cải tiến năng suất và chất lượng theo Biểu mẫu 02/TMDA-TĐC (Phụ lục 2 ban hành kèm theo).

b) Hồ sơ quyết toán khi được cấp kinh phí hỗ trợ

- Báo cáo kết quả thực hiện dự án theo Biểu mẫu 03/BC-TĐC (Phụ lục 2 ban hành kèm theo);

- Chứng từ thanh toán phần kinh phí được hỗ trợ.

Điều 4. Hỗ trợ dự án xây dựng và phát triển nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận, chỉ dẫn địa lý cho các sản phẩm truyền thống, đặc thù của tỉnh

1. Nội dung hỗ trợ

Hỗ trợ kinh phí xây dựng, đăng ký, khai thác và phát triển nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận, chỉ dẫn địa lý cho các sản phẩm truyền thống, đặc thù của tỉnh.

2. Mức hỗ trợ

Hỗ trợ 100% kinh phí cho các dự án xây dựng, đăng ký, khai thác và phát triển nhãn hiệu tập thể; nhãn hiệu chứng nhận; chỉ dẫn địa lý cho các sản phẩm truyền thống, đặc thù của tỉnh.

3. Thành phần hồ sơ

a) Hồ sơ đề nghị hỗ trợ

- Phiếu đăng ký tham gia dự án theo Biểu mẫu 04/ĐK-SHTT (Phụ lục 2 ban hành kèm theo) 1 bản;

- Bản sao Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc quyết định thành lập đối với các tổ chức (có chứng thực) 1 bản;

- Thuyết minh dự án xây dựng và phát triển nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận, chỉ dẫn địa lý theo Biểu mẫu 05/TMDA-SHTT (Phụ lục 2 ban hành kèm theo) 13 bản.

b) Hồ sơ quyết toán khi được cấp kinh phí hỗ trợ

- Báo cáo định kỳ tình hình thực hiện dự án theo Biểu mẫu 06/BCĐK-SHTT (Phụ lục 2 ban hành kèm theo);

- Báo cáo định kỳ tình hình chi tiêu tài chính dự án theo Biểu mẫu 07/BCTC-SHTT (Phụ lục 2 ban hành kèm theo);

 

- Bản hợp đồng của doanh nghiệp với cơ quan quản lý dự án;

- Kết quả nghiệm thu đề tài, dự án;

- Chứng từ thanh toán phần kinh phí hỗ trợ.

 

Điều 5. Hỗ trợ dự án đổi mới công nghệ, áp dụng công nghệ tiên tiến nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa, tiết kiệm năng lượng, hạn chế ô nhiễm môi trường

1. Nội dung hỗ trợ

a) Hỗ trợ kinh phí hoàn thiện công nghệ, đổi mới công nghệ, đổi mới dây chuyền sản xuất để thực hiện các dự án sản xuất thử nghiệm;

b) Hỗ trợ kinh phí sản xuất thử cho loạt sản phẩm đầu tiên của dự án;

c) Hỗ trợ kinh phí thuê, mua sắm, nhập khẩu trang thiết bị chuyên dụng phục vụ trực tiếp cho dự án;

d) Hỗ trợ kinh phí mua tài liệu kỹ thuật của nước ngoài (trong nước không có);

đ) Hỗ trợ kinh phí đào tạo tập huấn cho cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật và những người tham gia thực hiện dự án;

e) Hỗ trợ kinh phí tham gia các phiên chợ thiết bị công nghệ, giới thiệu, chào bán, quảng bá sản phẩm;

g) Hỗ trợ kinh phí khác trực tiếp phục vụ cho thực hiện dự án (không bao gồm chi phí đi công tác nước ngoài, lãi tiền vay do chủ dự án vay vốn để thực hiện dự án).

2. Mức hỗ trợ

a) Hỗ trợ 30% tổng kinh phí đầu tư mới để thực hiện dự án nhưng không quá 350 (ba trăm năm mươi) triệu đồng cho một dự án;

b) Hỗ trợ 50% tổng mức kinh phí đầu tư mới để thực hiện dự án tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo Quyết định số 539/QĐ-TTg ngày 01 tháng 4 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo giai đoạn 2013-2015 hoặc dự án trong lĩnh vực nông nghiệp nhưng không quá 350 (ba trăm năm mươi) triệu đồng cho một dự án;

c) Hỗ trợ 70% tổng mức kinh phí đầu tư mới để thực hiện dự án trong lĩnh vực nông nghiệp được triển khai trên địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo Quyết định số 539/QĐ-TTg nhưng không quá 350 (ba trăm năm mươi) triệu đồng cho một dự án.

3. Thành phần hồ sơ

a) Hồ sơ đề nghị hỗ trợ

- Phiếu đăng ký tham gia dự án theo Biểu mẫu 08/ĐK-QLCN (Phụ lục 2 ban hành kèm theo) 1 bản;

- Bản sao Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc quyết định thành lập đối với các tổ chức (có chứng thực) 2 bản;

- Thuyết minh dự án sản xuất thử nghiệm theo Biểu mẫu 09/TMDA-QLCN (Phụ lục 2 ban hành kèm theo) 13 bản.

b) Hồ sơ quyết toán khi được cấp kinh phí hỗ trợ

- Báo cáo định kỳ tình hình thực hiện dự án theo Biểu mẫu 10/BCĐK-QLCN (Phụ lục 2 ban hành kèm theo);

- Báo cáo kết quả thực hiện dự án theo Biểu mẫu 11/BC-QLCN (Phụ lục 2 ban hành kèm theo);

- Bản hợp đồng của doanh nghiệp với cơ quan quản lý dự án;

- Chứng từ thanh toán phần kinh phí hỗ trợ.

Điều 6. Hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng, áp dụng và chứng nhận các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến

1. Nội dung hỗ trợ

Hỗ trợ kinh phí đào tạo, tư vấn xây dựng và chứng nhận lần đầu các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến như: ISO 9001, ISO 22000, SQF, HACCP, GMP, GAP hoặc các hệ thống khác.

2. Mức hỗ trợ

Hỗ trợ 50% kinh phí đào tạo, tư vấn và chứng nhận lần đầu nhưng không quá 40 (bốn mươi) triệu đồng cho một hệ thống. Mỗi doanh nghiệp được hỗ trợ tối đa hai hệ thống/năm.

3. Thành phần hồ sơ

a) Hồ sơ đề nghị hỗ trợ (gồm 3 bộ)

- Phiếu đăng ký tham gia dự án theo Biểu mẫu 01/ĐK-TĐC (Phụ lục 2 ban hành kèm theo);

- Bản sao Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc quyết định thành lập đối với các tổ chức (có chứng thực);

- Bản sao các hợp đồng đào tạo, tư vấn, đánh giá chứng nhận, bản thanh lý hợp đồng (có chứng thực);

- Bản sao Giấy chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng phù hợp tiêu chuẩn (có chứng thực, giấy chứng nhận được cấp trong vòng 1 năm tính đến ngày nộp).

b) Hồ sơ quyết toán  khi được cấp kinh phí hỗ trợ

Chứng từ thanh toán phần kinh phí hỗ trợ.

Điều 7. Hỗ trợ doanh nghiệp tham gia giải thưởng Chất lượng Quốc gia

1. Nội dung hỗ trợ

Hỗ trợ kinh phí đào tạo, tư vấn, xây dựng báo cáo, phí tham gia xét tuyển ở Hội đồng sơ tuyển và Hội đồng quốc gia.

2. Mức hỗ trợ

Hỗ trợ 50% kinh phí đào tạo, tư vấn, xây dựng báo cáo, phí tham gia xét tuyển ở Hội đồng sơ tuyển và Hội đồng quốc gia nhưng không quá 30 (ba mươi) triệu đồng cho một doanh nghiệp trong một lần tham gia.

3. Thành phần hồ sơ

a) Hồ sơ đề nghị hỗ trợ (gồm 3 bộ)

- Phiếu đăng ký tham gia dự án theo Biểu mẫu 01/ĐK-TĐC (Phụ lục 2 ban hành kèm theo);

- Bản sao các hợp đồng đào tạo, tư vấn, bản thanh lý hợp đồng, bản sao chứng từ nộp phí xét tuyển và các chứng từ khác có liên quan (có chứng thực).

b) Hồ sơ quyết toán khi được cấp kinh phí hỗ trợ

- Bản sao Giấy chứng nhận Giải thưởng chất lượng (có chứng thực);

- Chứng từ thanh toán phần kinh phí hỗ trợ.

 

Điều 8. Hỗ trợ doanh nghiệp chứng nhận sự phù hợp của sản phẩm với tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn quốc tế, quy chuẩn quốc gia, quy chuẩn địa phương

1. Nội dung hỗ trợ

Hỗ trợ kinh phí đào tạo, tư vấn, thử nghiệm sản phẩm và chứng nhận sản phẩm phù hợp với tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn quốc tế, quy chuẩn quốc gia, quy chuẩn địa phương.

2. Mức hỗ trợ

Hỗ trợ 50% kinh phí đào tạo, tư vấn, thử nghiệm sản phẩm và chứng nhận sản phẩm phù hợp với tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn quốc tế, quy chuẩn quốc gia, quy chuẩn địa phương nhưng không quá 40 (bốn mươi) triệu đồng cho một  tiêu chuẩn, quy chuẩn. Mỗi doanh nghiệp được hỗ trợ tối đa hai tiêu chuẩn hoặc hai quy chuẩn/năm.

3. Thành phần hồ sơ

a) Hồ sơ đề nghị hỗ trợ (gồm 3 bộ)

- Phiếu đăng ký tham gia dự án theo Biểu mẫu 01/ĐK-TĐC (Phụ lục 2 ban hành kèm theo);

- Bản sao Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc quyết định thành lập đối với các tổ chức (có chứng thực);

- Bản sao Thông báo tiếp nhận hồ sơ công bố hợp chuẩn, hợp quy do cơ quan có thẩm quyền cấp (có chứng thực; thông báo tiếp nhận được cấp trong vòng 1 năm tính đến ngày nộp);

- Bản sao các hợp đồng đào tạo, tư vấn, chứng nhận, bản thanh lý hợp đồng, chứng từ thử nghiệm sản phẩm và các chứng từ khác có liên quan (có chứng thực).

b) Hồ sơ quyết toán khi được cấp kinh phí hỗ trợ

- Chứng từ thanh toán phần kinh phí được hỗ trợ.

Điều 9. Hỗ trợ xác lập quyền sở hữu công nghiệp

1. Nội dung hỗ trợ

Hỗ trợ kinh phí đăng ký bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với:

a) Nhãn hiệu hàng hoá (bảo hộ trong và ngoài nước), kiểu dáng công nghiệp;

b) Sáng chế, giải pháp hữu ích;

c) Nhãn hiệu tập thể;

d) Phần mềm máy tính, mạch tích hợp bán dẫn, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn.

2. Mức hỗ trợ

a) Bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá; kiểu dáng công nghiệp

- Bảo hộ nhãn hiệu ở trong nước: Hỗ trợ 50% kinh phí đăng ký bảo hộ trong nước nhưng không quá 2 (hai) triệu đồng cho một nhãn hiệu. Mỗi doanh nghiệp được hỗ trợ một nhãn hiệu/năm. Mỗi sản phẩm chỉ được hỗ trợ một nhãn hiệu.

- Bảo hộ nhãn hiệu ở nước ngoài: Hỗ trợ 50% kinh phí đăng ký bảo hộ ở nước ngoài nhưng không quá 40 (bốn mươi) triệu đồng cho một nhãn hiệu. Mỗi doanh nghiệp được hỗ trợ một nhãn hiệu/năm. Mỗi sản phẩm chỉ được hỗ trợ một nhãn hiệu.

- Bảo hộ kiểu dáng công nghiệp: Hỗ trợ 50% kinh phí đăng ký bảo hộ trong nước đối với kiểu dáng công nghiệp nhưng không quá 2 (hai) triệu đồng cho một kiểu dáng công nghiệp.

b) Bảo hộ sáng chế, giải pháp hữu ích: Hỗ trợ 100% kinh phí đăng ký bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với một sáng chế, giải pháp hữu ích nhưng không quá 7 (bảy) triệu đồng cho một sáng chế, giải pháp hữu ích.

c) Bảo hộ nhãn hiệu tập thể: Hỗ trợ 100% kinh phí xây dựng một nhãn hiệu tập thể nhưng không quá 15 (mười lăm) triệu đồng/nhãn hiệu tập thể.

d) Bảo hộ phần mềm máy tính, mạch tích hợp bán dẫn, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn: Hỗ trợ 50% kinh phí đăng ký bảo hộ nhưng không quá 2 (hai) triệu đồng cho một phần mềm máy tính, mạch tích hợp bán dẫn, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn.

3. Thành phần hồ sơ

a) Hồ sơ đề nghị hỗ trợ (gồm 3 bộ)

- Phiếu đăng ký tham gia dự án theo Biểu mẫu 04/ĐK-SHTT (Phụ lục 2 ban hành kèm theo);

- Bản sao Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc quyết định thành lập đối với các tổ chức (có chứng thực);

- Quyết định chấp nhận đơn hợp lệ của Cục Sở hữu trí tuệ (bản chính hoặc bản sao có chứng thực);

- Bản sao các chứng từ nộp phí, lệ phí  (có chứng thực).

b) Hồ sơ quyết toán khi được cấp kinh phí hỗ trợ

- Chứng từ thanh toán phần kinh phí được hỗ trợ.

Điều 10. Thủ tục phê duyệt hồ sơ

1. Doanh nghiệp nộp hồ sơ đề nghị hỗ trợ tại Sở Khoa học và Công nghệ. Sở Khoa học và Công nghệ chịu trách nhiệm xem xét và hướng dẫn hoàn chỉnh trước khi quyết định hoặc trình cấp có thẩm quyền quyết định.

2. Đối với các trường hợp hỗ trợ dự án quy định tại các Điều 3, 4 và 5 Quy chế này

a) Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ quyết định thành lập Hội đồng Khoa học và Công nghệ thẩm định dự án có mức đề nghị hỗ trợ dưới 100 (một trăm) triệu đồng. Trên cơ sở đề nghị của Hội đồng Khoa học và Công nghệ,  Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ phê duyệt mức hỗ trợ cụ thể.

Thời gian thực hiện: không quá 20 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.

b) Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quyết định thành lập Hội đồng Khoa học và Công nghệ để thẩm định dự án có mức đề nghị hỗ trợ từ 100 (một trăm) triệu đồng trở lên. Trên cơ sở đề nghị của Hội đồng Khoa học và Công nghệ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt mức hỗ trợ cụ thể.

Thời gian thực hiện: không quá 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.

3. Đối với các trường hợp hỗ trợ tại các Điều 6, 7, 8 và 9 Quy chế này

Sở Khoa học và Công nghệ phối hợp với Sở Tài chính thẩm định kinh phí, trên cơ sở đó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ quyết định mức hỗ trợ kinh phí một lần cho doanh nghiệp.

Thời gian thực hiện: không quá 20 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.

4. Trong trường hợp không hỗ trợ, Sở Khoa học và Công nghệ chịu trách nhiệm trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Chương III

TỔ CHỨC TRIỂN KHAI VÀ QUẢN LÝ

Điều 11. Phương thức quản lý

1. Ủy ban nhân dân tỉnh giao cho Sở Khoa học và Công nghệ thống nhất quản lý, chủ trì triển khai, thực hiện các nội dung của dự án năng suất và chất lượng.

2. Quản lý các dự án thành phần căn cứ theo nội dung hợp đồng giữa cơ quan quản lý dự án (Sở Khoa học và Công nghệ) với tổ chức, cá nhân chủ trì thực hiện dự án theo quy định tại Quy chế này.

Điều 12. Nội dung quản lý

Quản lý việc xây dựng kế hoạch, triển khai thực hiện kế hoạch đã được phê duyệt, bao gồm:

- Thông tin, tuyên truyền về dự án;

- Tổ chức hội nghị, hội thảo, sơ kết, tổng kết dự án;

- Tổ chức các lớp đào tạo;

- Thuê chuyên gia tư vấn, hỗ trợ;

- Tham quan, khảo sát, học tập kinh nghiệm;

- Quản lý tài chính thực hiện dự án;

- Quản lý các dự án thành phần.

Điều 13. Tổ chức quản lý

Ban Điều hành Dự án năng suất và chất lượng (gọi tắt là Ban Điều hành) do Ủy ban nhân dân tỉnh thành lập, giao Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ làm trưởng ban và các thành viên là đại diện lãnh đạo của các sở, ngành có liên quan theo Quyết định số 1908/QĐ-UBND.

Ban Điều hành có trách nhiệm chỉ đạo, quản lý triển khai tốt các nội dung của Dự án năng suất và chất lượng đã được phê duyệt. Giúp việc cho Ban Điều hành là Bộ phận thường trực do Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ quyết định.

Điều 14. Các nội dung quản lý dự án thành phần

Đối với các nội dung có yêu cầu xây dựng dự án thành phần tại các Điều 3, 4 và 5 Quy chế này, việc quản lý được thực hiện như sau:

1. Các dự án thành phần sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt, Sở Khoa học và Công nghệ ký hợp đồng giao chủ trì thực hiện dự án với tổ chức, cá nhân thực hiện dự án, trong đó Sở Khoa học và Công nghệ là Bên giao việc, tổ chức hoặc cá nhân chủ trì thực hiện dự án là Bên nhận việc. Hợp đồng giao chủ trì thực hiện dự án là căn cứ pháp lý để ràng buộc quyền và nghĩa vụ giữa cơ quan quản lý dự án với tổ chức, cá nhân chủ trì thực hiện dự án.

2. Sửa đổi, chấm dứt hợp đồng

a) Các bên tham gia hợp đồng giao chủ trì thực hiện dự án có thể đề nghị sửa đổi nội dung, tiến độ, thời hạn và kinh phí thực hiện hợp đồng cho phù hợp với điều kiện thực tế hoặc chấm dứt hợp đồng theo quy định của pháp luật.

b) Sở Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm báo cáo các đề nghị sửa đổi, chấm dứt hợp đồng và đề xuất phương án giải quyết đến Ban Điều hành dự án và cơ quan có thẩm quyền quyết định.

c) Sau khi có quyết định chấm dứt hợp đồng của cơ quan có thẩm quyền, các bên tham gia hợp đồng phải ngừng mọi hoạt động của dự án và báo cáo bằng văn bản về các công việc đã triển khai thực hiện, kinh phí đã sử dụng, trang thiết bị máy móc đã mua (nếu có) cho Sở Khoa học và Công nghệ để xem xét kiến nghị phương án giải quyết với cơ quan có thẩm quyền quyết định.

4. Cấp kinh phí

Sở Khoa học và Công nghệ căn cứ vào hợp đồng để cấp kinh phí thực hiện dự án theo quy định. Việc cấp kinh phí cho những giai đoạn thực hiện tiếp theo của dự án phải căn cứ vào báo cáo quyết toán kinh phí, báo cáo tình hình thực hiện dự án, biên bản kiểm tra thực hiện dự án của cơ quan quản lý.

5. Kiểm tra, giám sát việc thực hiện dự án thành phần

a) Ban Điều hành và Sở Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm tổ chức kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất tình hình thực hiện và sử dụng kinh phí của dự án thành phần.

b) Tổ chức, cá nhân chủ trì thực hiện dự án thành phần có trách nhiệm chuẩn bị và cung cấp đầy đủ các thông tin liên quan đến dự án đang được thực hiện và tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm tra.

6. Nghiệm thu và thanh lý hợp đồng dự án thành phần

Ban Điều hành và Sở Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm phối hợp tổ chức, đánh giá, nghiệm thu dự án, thanh lý hợp đồng theo quy định quản lý dự án và báo cáo cấp có thẩm quyền về kết quả của dự án.

7. Thời gian thực hiện

Mỗi dự án thực hiện không quá 02 năm (24 tháng) kể từ ngày được phê duyệt.

Điều 15. Kinh phí thực hiện dự án năng suất và chất lượng

1. Kinh phí thực hiện các nội dung của dự án năng suất và chất lượng sử dụng từ nguồn kinh phí sự nghiệp khoa học được bố trí hàng năm.

2. Mức chi, thủ tục lập dự toán, phê duyệt, giao, cấp phát, hạch toán và quyết toán kinh phí thực hiện dự án và quản lý dự án (xét duyệt dự án, thẩm định kinh phí, nghiệm thu, kiểm tra, giám sát) thực hiện theo Quyết định số 40/2007/QĐ-UBND ngày 19 tháng 10 năm 2007 của Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành Quy định Định mức chi đối với các đề tài, dự án khoa học và công nghệ có sử dụng ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Bến Tre và các quy định khác có liên quan.

Điều 16. Trách nhiệm của các cơ quan thực hiện dự án năng suất và chất lượng

1. Trách nhiệm của Sở Khoa học và Công nghệ

a) Chủ trì việc điều hành và tổ chức thực hiện dự án năng suất và chất lượng.

b) Xây dựng các biểu mẫu phục vụ cho công tác tổ chức Hội đồng xét duyệt, Hội đồng thẩm định kinh phí, Hội đồng nghiệm thu. Tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận xây dựng dự án, làm các thủ tục để nhận hỗ trợ.

c) Xem xét hồ sơ và ban hành quyết định cấp kinh phí hỗ trợ đối với các nội dung được uỷ quyền. Tổ chức Hội đồng Khoa học và Công nghệ xem xét, đánh giá thuyết minh dự án thành phần đối với nội dung có quy định xây dựng dự án, trình Uỷ ban nhân dân tỉnh phê duyệt dự án.

d) Kiểm tra, giám sát tình hình thực hiện của dự án.

đ) Quyết toán kinh phí hỗ trợ doanh nghiệp, kinh phí hoạt động của dự án.

e) Điều chỉnh mục tiêu, nội dung, hạng mục kinh phí và tiến độ thực hiện các dự án thành phần đã được phê duyệt; sửa đổi và chấm dứt hợp đồng giao chủ trì thực hiện dự án thành phần khi cần thiết.

g) Tổ chức đánh giá nghiệm thu kết quả thực hiện các dự án thành phần và phê duyệt hoặc trình phê duyệt kết quả đánh giá, nghiệm thu dự án thành phần.

h) Tổng hợp báo cáo tình hình thực hiện dự án định kỳ (6 tháng và hàng năm) trình Ban Điều hành và Ủy ban nhân dân tỉnh.

i) Tổ chức sơ kết, đánh giá kết quả hoạt động, tổng kết dự án năng suất và chất lượng và tổ chức áp dụng rộng rãi các mô hình dự án thành phần đã thực hiện.

2. Trách nhiệm của Sở Tài chính

a) Xem xét thẩm định, phân bổ kinh phí để thực hiện dự án.

b) Chủ trì giải quyết những vấn đề về tài chính liên quan đến dự án.

3. Trách nhiệm của các Sở Công thương, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Ban Quản lý các khu công nghiệp thực hiện theo Quyết định số 1908/QĐ-UBND.

Điều 17. Trách nhiệm của cá nhân, tổ chức thực hiện dự án thành phần

1. Cá nhân, tổ chức được giao chủ trì thực hiện dự án thành phần có trách nhiệm tổ chức triển khai thực hiện dự án theo đúng mục tiêu, nội dung, tiến độ và sử dụng một cách có hiệu quả kinh phí được cấp phù hợp với Hợp đồng giao chủ trì thực hiện dự án.

2. Cá nhân, tổ chức được giao chủ trì thực hiện dự án thành phần có quyền ký các hợp đồng giao việc, thuê khoán với các tổ chức, cá nhân khác để thực hiện các hạng mục công việc thuộc nội dung dự án đã được giao chủ trì.

3. Cá nhân, tổ chức được giao chủ trì thực hiện dự án thành phần có trách nhiệm định kỳ (6 tháng và hàng năm) hoặc đột xuất (theo yêu cầu của Ban điều hành hoặc Sở Khoa học và Công nghệ) báo cáo tình hình thực hiện dự án, đánh giá hiệu quả của dự án, đề xuất và kiến nghị các biện pháp nhằm thực hiện tốt dự án./.

 

 

TM. ỦY BAN NHÂN DÂN

CHỦ TỊCH

(đã ký)

Võ Thành Hạo

--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Phụ lục 1

DANH SÁCH NGÀNH CÔNG NGHIỆP MŨI NHỌN,

CÔNG NGHIỆP ƯU TIÊN CỦA TỈNH VÀ DANH SÁCH SẢN PHM

TRUYN THNG, ĐC THÙ CA TNH

(Ban hành kèm theo Quyết định số 22 /2014/QĐ-UBND  ngày 30 tháng 7  năm 2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre)


1. Danh sách ngành công nghiệp mũi nhọn, công nghiệp ưu tiên của tỉnh

Căn cứ theo Quyết định 1895/QĐ-UBND ngày 04 tháng 10 năm 2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh về phê duyệt đề án định hướng phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn, công nghiệp ưu tiên trên địa bàn tỉnh Bến Tre giai đoạn 2011-2020 gồm các ngành:

a) Công nghiệp chế biến thủy sản;

b) Công nghiệp chế biến các sản phẩm từ dừa;

c) Công nghiệp hỗ trợ ngành may;

d) Sản xuất thức ăn chăn nuôi (gia súc, gia cầm, thủy sản);

e) Công nghiệp hóa chất (phân bón sạch, hóa dược);

g) Công nghiệp cơ khí;

h) Thiết bị điện tử, viễn thông và công nghệ thông tin, công nghiệp phần mềm;

i) Công nghiệp chế biến súc sản;

k) Công nghiệp sản xuất các sản phẩm mới (năng lượng gió, năng lượng mặt trời).

2. Danh sách sản phẩm truyền thống, sản phẩm đặc thù của tỉnh: bao gồm các sản phẩm của các làng nghề, cụ thể:

a) Các sản phẩm thuộc ngành nghề truyền thống đã hình thành lâu đời:

- Làng nghề dệt chiếu – thảm;

- Làng nghề sản xuất mây tre đan;

- Làng nghề nấu rượu;

- Làng nghề chế biến cá khô;

- Làng nghề kềm kéo;

- Làng nghề sản xuất bánh phồng, bánh tráng;

- Làng nghề sản xuất lu chứa nước – bàn ghế bằng xi măng.

b) Các sản phẩm thuộc các làng nghề sản xuất các sản phẩm từ dừa:

- Làng nghề sản xuất chỉ xơ dừa;

- Làng nghề đan giỏ cọng dừa;

- Làng nghề bó chổi.

c) Các sản phẩm thuộc các làng nghề nông nghiệp:

- Làng nghề truyền thống sản xuất muối;

- Làng nghề truyền thống đánh bắt hải sản;

- Làng nghề truyền thống hoa kiểng, cây giống;

- Làng nghề hoa kiểng, cây giống.

TM. ỦY BAN NHÂN DÂN

CHỦ TỊCH

(đã ký)

Võ Thành Hạo

 
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG VÀ BỒI DƯỠNG LÝ TƯỞNG CÁCH MẠNG CHO THẾ HỆ TRẺ VIỆT NAM HIỆN NAY - VẤN ĐỀ VÀ GIẢI PHÁP PDF. In bài viết Email
Đề cương tuyên truyền
Tác giả: GS.TS Triết học Hoàng Chí Bảo Chuyên gia cao cấp, Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương   

GS.TS Triết học  Hoàng Chí Bảo

Chuyên gia cao cấp, Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương

1. Vấn đề của toàn xã hội và của bản thân mỗi người

Thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay là bao gồm tất cả thanh thiếu niên và nhi đồng ở nước ta - cả một lớp người sinh ra và lớn lên trong đổi mới. Họ là con đẻ của thời đại đổi mới, hội nhập, hiện đại hóa để phát triển bền vững. Nước ta có cơ cấu dân số trẻ. Thế hệ trẻ chiếm hơn 60% - một tỷ lệ lớn trong dân cư. Lớp trẻ sẽ là rường cột của xã hội trong tương lai, là lực lượng nòng cốt để phát triển đất nước, chấn hưng dân tộc Việt Nam, thực hiện khát vọng, hoài bão của Hồ Chí Minh, thực hiện tâm nguyện của Người mà sinh thời Người đặt tất cả niềm tin, kỳ vọng vào họ.

Giáo dục đạo đức, lối sống và bồi dưỡng lý tưởng cách mạng cho thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay cũng như trong những thập kỷ tới, trong tiến trình đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa là vấn đề vô cùng hệ trọng và ở tầm quan trọng chiến lược.

Quan tâm tới vấn đề này không chỉ có Đảng, Nhà nước mà còn là mối quan tâm của toàn xã hội, của cả hệ thống chính trị, trong đó Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh đóng vai trò nòng cốt và có trọng trách trực tiếp.

Cả cộng đồng dân tộc Việt Nam, vì tương lai, triển vọng của mình mà phải quan tâm tới thế hệ trẻ, phải huy động nỗ lực, phải đề cao trách nhiệm và huy động mọi nguồn lực vào việc chăm lo giáo dục - đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ, làm cho con em chúng ta đạt được chất lượng phát triển tốt nhất. Có thể nói, toàn quốc - địa phương và cơ sở, mọi ngành, mọi cấp, mọi nhà và mọi người đều phải quan tâm tới sự trưởng thành, phát triển của thế hệ trẻ. Các nhà giáo dục phải coi đây là mục đích, lẽ sống của mình. Các bậc làm cha mẹ không những phải đề cao trách nhiệm đối với con em mình mà còn hàng ngày hàng giờ phải lo lắng, dằn vặt về những tình huống đang đặt ra trong sự phát triển của trẻ em. Cả xã hội phải cùng chia sẻ những lo lắng dằn vặt đó.

Giáo dục, trong đó có giáo dục đạo đức, lối sống, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng cho thanh thiếu niên nhi đồng ở thời kỳ phát triển bước ngoặt, đan xen cả thời cơ lẫn thách thức như hiện nay - khi phát triển luôn phải đối mặt với phản phát triển… còn là mối quan tâm, thành nhu cầu và yêu cầu của bản thân thế hệ trẻ, của mỗi con người trẻ tuổi, đặc biệt là thanh niên trước ngưỡng cửa cuộc đời, lập thân lập nghiệp. Khi đã đến tuổi khôn lớn, trưởng thành, nhân cách đã định hình hoặc đang trở thành nhân cách, mỗi người trẻ tuổi phải tự ý thức được về lẽ sống, về sự lựa chọn giá trị, tự đặt ra và tự trả lời về mục đích cuộc sống, về thái độ và hành vi sống của mình. Do đó, họ có nhu cầu tự thân về giáo dục và tự giáo dục, đào tạo và tự đào tạo. Lẽ dĩ nhiên, để hình thành nhu cầu tự thân ấy ở thanh niên và thế hệ trẻ nói chung, rất cần có sự trợ giúp, hướng dẫn đầy tinh thần vị tha - nhân ái - khoan dung của những người lớn, lớp cha anh, đặc biệt cần đến sự tác động tinh tế của các nhà giáo dục, của tổ chức Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, của các anh chị được coi là thủ lĩnh của thanh niên.

Chính trên tinh thần ấy, tôi đánh giá cao với lòng trân trọng một nỗ lực đầy trách nhiệm mới đây của Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh thể hiện qua dự thảo Đề án có tựa đề “Tăng cường giáo dục đạo đức, lối sống, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng cho thanh thiếu niên (giai đoạn 2013 - 2020).

Có thể nhận xét rằng, bản đề án được soạn thảo công phu, nghiêm túc, tâm huyết và trách nhiệm của Đoàn đối với thế hệ trẻ nước ta hiện nay. Nhìn chung, đây là một dự thảo có chất lượng, thể hiện được tinh thần đổi mới tư duy về công tác thanh thiếu nhi, về phong trào và hoạt động của Đoàn nhằm tác động vào ý thức chính trị, vào đời sống tinh thần của thế hệ trẻ nước ta, để nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục đạo đức, lối sống, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng cho con em chúng ta đang trong quá trình trưởng thành.

Có thể thấy trong nội dung và qua cơ cấu của đề án này những suy nghĩ đúng đắn, những tìm tòi có tính mới, có tính chủ động, tích cực và có tính sáng tạo. Điều đó được thể hiện tương đối rõ trong nỗ lực gây dựng và phát triển sâu rộng phong trào và hoạt động xã hội cho tuổi trẻ, đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp bộ Đoàn, tìm tòi những giải pháp, biện pháp phù hợp với tâm lý lớp trẻ, với nhu cầu văn hóa tinh thần của tuổi trẻ, thông qua đó thực hiện các tác động giáo dục, định hướng giáo dục.

Trên cơ sở dự thảo này, nếu có thêm sự hỗ trợ của các chuyên gia, của các tổ chức tư vấn, và nhất là lắng nghe, thu thập ý kiến của các cán bộ Đoàn, Hội, Đội, tiếng nói chân thực của chính thanh thiếu niên nhi đồng - đối tượng chịu tác động mà cũng là chủ thể thụ hưởng đề án này… thì nhất định chúng ta sẽ có một đề án tốt, hứa hẹn những khả năng và triển vọng về tính hiện thực, sức sống của đề án, tạo ra một chuyển biến tích cực trong phong trào thanh nhiếu nhi ở nước ta.

Cần thấy hết ý nghĩa và tác dụng nhiều mặt của đề án này, tầm quan trọng chiến lược của nó đối với chất lượng giáo dục đạo đức, lối sống, tác dụng và hiệu quả bồi dưỡng lý tưởng cách mạng cho thế hệ trẻ nước ta trong tình hình mới, trước yêu cầu mới.

Việc thiết kế tư tưởng lý luận của đề án cũng như việc chỉ đạo tổ chức thực hiện đề án trong thực tiễn chẳng những góp phần trực tiếp thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đoàn mà còn thể hiện trách nhiệm của chúng ta trong việc thực hiện Nghị quyết của Đảng về công tác thanh thiếu niên trong sự nghiệp đổi mới, nhất là những quan điểm của Đảng về thanh thiếu niên và giáo dục thanh thiếu niên trong Cương lĩnh và Nghị quyết Đại hội XI của Đảng.

2. Vấn đề đổi mới tư duy, xác lập nhận thức mới đối với thế hệ trẻ và giáo dục bồi dưỡng thế hệ trẻ nước ta trong tình hình hiện nay

Cần lưu ý mấy điểm sau đây:

Thứ nhất, xét theo nguyên lý giáo dục, muốn cho những tác động giáo dục thế hệ trẻ đạt kết quả, hiệu quả thì nhất thiết chủ thể giáo dục phải có hiểu biết thấu đáo về đối tượng giáo dục, có nội dung và phương pháp giáo dục tinh tế, phù hợp với tâm sinh lý, nhu cầu và nguyện vọng của đối tượng. Quan hệ giữa chủ thể và đối tượng giáo dục trong trường hợp này là quan hệ giữa con người với con người, gắn liền với thiết chế và thể chế giáo dục, với các điều kiện, môi trường, hình thức và phương tiện giáo dục. Xử lý hệ vấn đề này là cả một khoa họcnghệ thuật về giáo dục, ứng xử với con người. Đây là một đối tượng đặc thù, có thể coi là một nhóm xã hội lớn (về số lượng), có thể lên tới mấy chục triệu người trong tổng dân số xã hội, chia ra theo các lớp tuổi.

- Thanh niên 16 - 30 tuổi

- Thiếu niên 9 - 16 tuổi

- Nhi đồng 6 - 9 tuổi.

Nhóm xã hội này còn khác nhau về giới tính (nam - nữ), về địa bàn sinh sống (thành thị/nông thôn), về dân tộc (ngoài tộc người Kinh còn có các tộc người thiểu số) và về tôn giáo…

Nói chung, thế hệ trẻ với cơ cấu như vậy đều thuộc lớp người đang được nuôi dưỡng, đang trưởng thành (thiếu niên, nhi đồng) đang trong độ tuổi đến trường, đang đi học. Chỉ có một bộ phận thanh niên, tạm quy ước là đã ở tuổi trưởng thành, đã tốt nghiệp các trường, hoặc Đại học, Cao đẳng, hoặc trung học chuyên nghiệp, dạy nghề, đã được đào tạo nghề chuyên môn để có thể làm việc, lao động, vào đời lập thân lập nghiệp (từ 18 - 20 tuổi hoặc 22 tuổi trở lên). Số thanh niên đang là học sinh, sinh viên rất đông (từ 16 - 22 tuổi). Số đã trưởng thành có thể làm việc, sinh sống ở nông thôn, ở các đô thị, có thể làm việc trong các cơ quan nhà nước mà cũng có thể làm việc trong khu vực tư nhân, kể cả làm thuê cho các chủ tư bản nước ngoài, có khi còn làm nghề tự do hoặc còn đang chưa có việc làm, thuộc nhóm thất nghiệp tạm thời. Số này hiện nay, nếu thống kê đầy đủ là không nhỏ, đang trở thành một hiện tượng xã hội, dễ nảy sinh những tình huống tiêu cực: tội phạm và tệ nạn.

Như thế, chỉ hình dung riêng nhóm thanh niên đã thấy rõ những phức tạp của nó.

Thanh thiếu niên nhi đồng nước ta do chưa trưởng thành nên phần lớn còn sống với cha mẹ trong gia đình và đang học nên ở trong môi trường học đường (thuộc các cấp học từ tiểu học đến phổ thông trung học và Đại học).

Nhìn vào bức tranh xã hội về cơ cấu xã hội của thanh thiếu niên Việt Nam, không thể không tính đến những khác biệt về hoàn cảnh sống sau đây:

- Trong các gia đình không đầy đủ hoặc không bình thường, bất hạnh.

- Trong tình trạng bị khuyết tật: câm điếc, khiếm thính, khiếm thị, dị dạng bởi chất độc màu da cam trong chiến tranh.

- Trong các gia đình nghèo đói phải bỏ học, thất học.

- Bỏ nhà, đi lang thang, dễ rơi vào hoàn cảnh bị biến dạng về nhân cách, rơi vào các cạm bẫy của tội phạm, tệ nạn trong điều kiện kinh tế thị trường phát triển, kèm theo rất nhiều hệ lụy mà đạo đức xã hội lại đang suy đồi.

Nói tóm lại, tình hình, hoàn cảnh sống của thanh thiếu nhi Việt Nam hiện nay là phức tạp, không ổn định, nhiều biến đổi, thiếu an ninh, an toàn cho sự sống hàng ngày và cho sự phát triển nhân cách. Phân hóa, phân tầng xã hội ngày một gay gắt và điều ấy tác động trực tiếp tới lớp trẻ.

Trong hoàn cảnh như vậy, tiến hành giáo dục đối với thế hệ trẻ như thế nào là cả một vấn đề có tình huống, không thể giản đơn, thoát ly thực tế được.

Điều nói trên cho thấy, muốn giáo dục thế hệ trẻ phải xuất phát từ hoàn cảnh sống thực tế của họ. Tác động giáo dục tới thanh niên có sự tham dự của lý trítính khuynh hướng (chính trị - xã hội), trong khi đó, giáo dục thiếu niên nhi đồng nổi bật nổi trội ở đặc trưng tình cảm, bồi dưỡng cảm xúc và bằng trực quan, trực cảm của các phương pháp, hình thức tác động. Không chú ý tới đặc điểm và yêu cầu này, những lệch lạc khiếm khuyết trong giáo dục rất dễ dẫn tới nguy cơ làm tổn thương tinh thần của trẻ.

Nói tóm lại, muốn giáo dục đạo đức, lối sống, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng cho thế hệ trẻ ở nước ta hiện nay, phải đặc biệt chú trọng tới hoàn cảnh sống, tới thực trạng, hiện trạng cuộc sống của họ. Nó quy định nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục. Tất cả phải thiết thực, cụ thể, tỷ mỷ, kiên nhẫn và ứng xử tinh tế. Công tác giáo dục của Đoàn, Đội, Hội phải tránh xa tính hành chính, quan liêu, khô cứng, sơ cứng, giáo điều, chủ quan, duy ý chí.

Thứ hai, tác động tới tình cảm, tâm hồn và đời sống tinh thần của thế hệ trẻ hiện nay, bắt đầu từ thái độ nhận thức, đánh giá về bản thân lớp trẻ. Hiện nay, trong đánh giá và ứng xử với thanh thiếu nhi thường thấy những khuynh hướng lệch lạc, chủ quan, phiến diện. Đây là rào cản nhận thức và tâm lý phải vượt qua đối với những người đi giáo dục, đối với các cá nhân, tổ chức, lực lượng giáo dục. Muốn đổi mới tư duy giáo dục, đặc biệt là giáo dục đạo đức, lối sống, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng cho lớp trẻ phải vượt qua những hạn chế, “những điểm nghẽn chủ quan” này.

- Hoặc thiên kiến, hẹp hòi, nhìn nhận, đánh giá lớp trẻ hiện nay chỉ thấy tiêu cực, xấu xa, hư hỏng. Hiện trạng này là một thực tế nhưng không phải là tất cả, càng không phải hoàn toàn là lỗi của lớp trẻ mà một phần lớn là lỗi của người lớn, của gia đình, nhà trường và xã hội.

- Trong ứng xử cũng thường rơi vào những thái cực: hoặc nghiệt ngã, thậm chí xảy ra cả bạo lực, nhất là trong gia đình, cũng có khi xảy ra trong nhà trường và ngoài xã hội đối với trẻ em, ngược lại là sự nuông chiều, phó mặc (thường xảy ra ở thành phố, trong các gia đình khá giả, giàu có) dẫn trẻ tới sự thụ động, ỷ lại, thói ích kỷ, làm cho trẻ chỉ biết đòi hỏi mà không có ý thức trách nhiệm, nghĩa vụ với người khác, với chính mình. Đó cũng là những lệch lạc nhân cách.

Cũng có cả những nhận thức chủ quan, cảm tính đối với thế hệ trẻ, thiếu hiểu biết và thiếu quan tâm đầy đủ trách nhiệm trong việc nuôi dạy, giáo dục, rèn luyện trẻ em. Đó là tính tự phát trong giáo dục con người, dễ để xảy ra những hậu quả và hệ lụy xấu.

Trong tình trạng đạo đức xã hội suy thoái, môi trường giáo dục trong gia đình và nhà trường còn bộc lộ nhiều bất ổn, thế hệ trẻ vấp phải tình trạng xung độtchệch hướng (lệch lạc chuẩn mực). Đó là xung đột tự nó (những vụ ẩu đả xảy ra ngay cả trong nhóm nữ sinh là một ví dụ) và xung đột thế hệ (giữa trẻ với người lớn), xung đột giữa các thế hệ.

Những phản ứng tiêu cực này có thể hình dung như những dấu hiệu khủng hoảng tâm lý, ý thức, lối sống của lớp trẻ và bệnh tâm thần (tự kỷ, trầm cảm). Thái độ và trách nhiệm của Đoàn Thanh niên trước những tình huống này là vấn đề phải đặt ra và Đoàn phải chủ động vào cuộc, chủ động giải quyết với nỗ lực cao nhất, cố gắng tới mức cao nhất để thực hiện trọng trách của Đoàn đối với lớp trẻ.

Thứ ba, Đoàn Thanh niên và xã hội nói chung, đặc biệt là gia đình, nhà trường và những người lớn cần xác lập những chuẩn mực ứng xử lành mạnh, đúng đắn, có trách nhiệm đối với thế hệ trẻ. Đây là trách nhiệm xã hội, là đạo lý, lẽ phải, tình thương mà cá nhân cũng như tổ chức phải có, trong quan hệ với thanh thiếu niên nhi đồng.

Những chuẩn mực ứng xử đó chính là điều kiện cần để đảm bảo cho giáo dục đạo đức, lối sống, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng cho thế hệ trẻ đạt được hiệu quả - xét từ phía chủ thể giáo dục. Đó là:

- Dân chủ, tôn trọng nhân cách của trẻ em, của thanh thiếu niên. Không áp đặt, không ra lệnh, không xúc phạm mà chú trọng lắng nghe, đối thoại, hướng dẫn, thuyết phục.

- Tin cậy, tin vào khả năng và những phẩm chất tốt đẹp, sự nảy nở thiên lương và nhân tính nơi con người trẻ tuổi.

- Vị tha - Nhân ái - Khoan dung. Đó là sức mạnh tình cảm đạo đức của thuyết phục, cảm hóa.

- Tinh tế, biết chia sẻ, biết cảm thông, biết chờ đợi. Đó là sức mạnh của phương pháp và nghệ thuật giáo dục làm cho con người trở nên tốt đẹp.

- Hướng dẫn và thúc đẩy. Đây là thể hiện năng lực và bản lĩnh giáo dục, kết hợp lý trí với tình cảm, lý thuyết với kinh nghiệm, biết đặt mình vào đối tượng, hiểucảm trong ứng xử với những người trẻ tuổi để giúp họ trưởng thành.

Thứ tư, cũng cần nhận thức rằng, trong tình hình hiện nay, giáo dục đạo đức, lối sống và bồi dưỡng lý tưởng cách mạng cho thanh thiếu nhi có rất nhiều khó khăn trở ngại. Nó đến từ hai phía:

- Trong bản thân thanh thiếu nhi: do những biến đổi về tâm sinh lý, nhất là ở tuổi dậy thì, khi con người sinh học của họ phát triển quá nhanh, quá sớm trong khi con người xã hội, phẩm chất xã hội của họ để tạo ra nhân cách lại đến muộn, đến chậm. Họ sống trong môi trường xã hội đã đổi khác, nhất là thông tin, công nghệ thông tin cùng với kinh tế thị trường đã có không ít tác động mặt trái tới đời sống, tư tưởng, tình cảm của họ, từ nhi đồng tới thanh niên. Đây là tập nhiễm xấu của xã hội thâm nhập vào lớp trẻ mà bản thân họ không đủ kinh nghiệm sống, kỹ năng sống, bản lĩnh sống để tự giải quyết.

- Tiêu cực xã hội, sự thiếu gương mẫu, thiếu trách nhiệm của người lớn tạo ra những phản ứngphản cảm đối với lớp trẻ: quan liêu, tham nhũng, cơ hội, ích kỷ, vụ lợi, thủ đoạn, đạo đức giả, cả thói vô cảm đến tàn nhẫn, lạnh lùng của những người lớn hư hỏng, suy thoái làm mất lòng tin của trẻ. Nó dẫn lớp trẻ, nhất là thanh niên rơi vào trạng thái không chỉ mất niềm tin mà còn mất phương hướng, không biết lựa chọn lối sống, lẽ sống như thế nào, theo định hướng giá trị nào khi phải đối mặt với thực tế phũ phàng như vậy. Trong khi đó, kinh tế suy giảm tốc độ tăng trưởng, lạm phát gia tăng,đời sống khó khăn, thất nghiệp, xã hội ngày càng bất ổn, nhiều tiêu cực và tệ nạn cùng với tội phạm làm cho môi trường nhân văn xã hội bị ô nhiễm, đặt giáo dục, đạo đức, lối sống, lý tưởng trước rất nhiều khó khăn, thách thức. Để vượt qua những khó khăn, thách thức này cần tới những Đổi mới cơ bản về giải pháp giáo dục.

3. Tìm kiếm những giải pháp mới để nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục đạo đức, lối sống, bồi dưỡng lý tưởng Cách mạng cho thanh thiếu nhi.

a. Cải thiện môi trường xã hội và điều kiện sống để thanh thiếu nhi tiếp thu giáo dục đạo đức, lối sống và bồi dưỡng lý tưởng Cách mạng một cách tích cực, có cơ sở hiện thực.

Đây là vấn đề lớn, là trách nhiệm chung của toàn xã hội, trước hết phải là trách nhiệm của Đảng và Nhà nước, của các lực lượng xã hội và cơ sở giáo dục. Hai thiết chế tác động trực tiếp tới giáo dục thế hệ trẻ là Gia đình Nhà trường cần phải được lành mạnh hóa, bởi chúng đều đang ở trong tình trạng suy thoái.

Môi trường xã hội và điều kiện sống chính là hoàn cảnh của giáo dục, hoàn cảnh ấy cần phải được thay đổi, nói như Mác phải được tăng cường nhân tính, có tính người nhiều hơn để giáo dục, bồi dưỡng nhân tính tốt hơn cho lớp trẻ.

Để thực hiện được phải có thể chế, chính sách, có đầu tư nguồn lực, cộng đồng trách nhiệm của mọi cấp, mọi ngành. Đoàn Thanh niên có thểcần phải tác động vào các chương trình hành động của nhà nước và xã hội. Tùy thuộc sự cải thiện này đến đâu, như thế nào mà giáo dục đạo đức cho thanh thiếu nhi sẽ có biến đổi tương ứng như thế.

b. Thay đổi nhận thức xã hội về Giáo dục và phải đặt giáo dục đạo đức lên hàng đầu trong tất cả hệ thống giáo dục

Xã hội phải sớm tính đến một bộ luật đạo đức để bảo vệ đạo đức, phát triển, chấn hưng đạo đức dân tộc, gia đình, nhà trường và cộng đồng nói chung. Đây là giải pháp tạo hiệu ứng xã hội và tăng cường thể chế pháp lý cho giáo dục đạo đức. Đoàn Thanh niên và các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm đối với thế hệ trẻ phải chủ động đề xuất, thúc đẩy và thực hiện giải pháp này.

c. Nâng cao đạo đức cho các chủ thể giáo dục, đặc biệt là đội ngũ nhà giáo các cấp, từ phổ thông đến đại học, những người làm cha mẹ và người lớn nói chung. Mác đòi hỏi, bản thân nhà giáo dục cũng phải được giáo dục là vì vậy. Do đó, nỗ lực hợp tác và cộng đồng trách nhiệm giữa Đoàn với ngành giáo dục phải được coi trọng. Nhà nước phải thể chế hóa yêu cầu này.

d. Huy động các lực lượng và tạo dư luận xã hội tích cực để việc giáo dục thanh thiếu niên thành một trách nhiệm đạo đức, chính trị, pháp lý phải được quản lý, kiểm soát và thúc đẩy.

e. Thay đổi nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục thanh thiếu niên nhi đồng theo hướng giáo dục đạo đức là hàng đầu, bồi dưỡng tình cảm đạo đức, tình thương, kỷ cương, trách nhiệm là cốt lõi. Thực hành đạo đức phải tạo thành động lực, phổ biến, thường xuyên. Giải phóng việc giáo dục đạo đức và chỉ đạo giáo dục đạo đức của Đoàn ra khỏi tình trạng hành chính quan liêu và tính hình thức. Đặc biệt coi trọng nêu gươngbồi dưỡng xúc cảm thẩm mỹ đạo đức, liên quan tới giáo dục nhà trường, tới câu chuyện dạy văn, học văn hiện nay, tới khoa học xã hội - nhân văn ở nước ta.

f. Đoàn Thanh niên phải tự đổi mới chính mình về phương pháp và phong cách hoạt động, tập hợp, thu hút các lực lượng, các chuyên gia vào công tác giáo dục thế hệ trẻ./.

Cập nhật ngày
 
CÔNG TÁC ĐỀN ƠN ĐÁP NGHĨA, UỐNG NƯỚC NHỚ NGUỒN CHÍNH LÀ ĐỘNG LỰC GIÚP THANH THIẾU NHI BẾN TRE RÈN LUYỆN, CỐNG HIẾN VÀ TRƯỞNG THÀNH. PDF. In bài viết Email
Đề cương tuyên truyền
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Nhung   
CÔNG TÁC ĐỀN ƠN ĐÁP NGHĨA, UỐNG NƯỚC NHỚ NGUỒN CHÍNH LÀ ĐỘNG LỰC GIÚP THANH THIẾU NHI BẾN TRE RÈN LUYỆN, CỐNG HIẾN VÀ TRƯỞNG THÀNH. (Bài viết của đồng chí Nguyễn Thị Hồng Nhung - TUV, Bí thư Tỉnh đoàn) Được sinh ra và lớn lên trên đất nước Việt Nam có truyền thống yêu nước nồng nàn, tinh thần bất …
Cập nhật ngày
 
BỘ CÂU HỎI TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA TỈNH BẾN TRE VÀ GIÁ TRỊ HÌNH MẪU THANH NIÊN ĐỒNG KHỞI MỚI PDF. In bài viết Email
Đề cương tuyên truyền
Tác giả: Ban Tuyên giáo Tỉnh đoàn   

BỘ CÂU HỎI TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA TỈNH BẾN TRE VÀ GIÁ TRỊ HÌNH MẪU THANH NIÊN ĐỒNG KHỞI MỚI

Bộ câu hỏi gồm có: 10 câu về văn hóa di tích, di sản Bến Tre; 24 câu về cuộc đời, sự nghiệp Nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu; 10 câu về truyện thơ Lục Vân Tiên; 16 câu về xây dựng hình mẫu người thanh niên Đồng Khởi mới.

* VỀ VĂN HÓA DI TÍCH DI SẢN (10 CÂU)

Câu 1. Nói thơ Lục Vân Tiên là:

a. Nghệ thuật trình diễn dân gian

b. Ngữ văn dân gian

c. Tri thức dân gian

 

Câu 2. Loại hình nào sau đây không phải là ngữ văn dân gian:

a. Hát bội

b. Hát sắc bùa

c. Hát ru

 

Câu 3. Loại hình nghệ thuật dân gian nào sau đây không mang tính truyền thống ở Bến Tre?

a. Lý

b. Nói thơ Lục Vân Tiên

c. Hát sắc bùa

d. Ca trù

Câu 4. Loại hình nghệ thuật dân gian nào sau đây không mang tính truyền thống ở Bến Tre?

a. Hát huê tình

b. Truyện cười dân gian Ông Ó

c. Hò ví dặm

d. Nói vè

 

Câu 5. Làng nghề thủ công truyền thống sản xuất rượu của tỉnh Bến Tre ở địa phương nào?

a. Xã Mỹ Thạnh (Giồng Trôm)

b. Xã Phú Lễ (Ba Tri)

c. Xã Bình Phú (Thành phố Bến Tre)

d. Câu b,c đúng

Câu 6. Lễ hội truyền thống văn hóa tỉnh Bến Tre được tổ chức nhân dịp kỷ niệm:

a. Ngày sinh của Nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu

b. Ngày mất của Nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu

c. Ngày sinh và ngày mất của Nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu

d. Cả a, b, c đều sai

 

Câu 7. Văn hóa ẩm thực dừa Bến Tre thuộc loại hình:

a. Nghề thủ công truyền thống

b. Tập quán xã hội

c. Tri thức dân gian

Câu 8. Nghề đông y của cụ Đồ Chiểu thuộc loại hình:

a. Nghề thủ công truyền thống

b. Tập quán xã hội

c. Tri thức dân gian

Câu 9. Hình thức văn hóa phi vật thể truyền thống nào của tỉnh đang bị mai một?

a. Hò đối đáp

b. Đàn ca tài tử

c. Văn hóa ẩm thực dừa Bến Tre

d. Nghề đông y của cụ Đồ Chiểu

 

Câu 10. Huyện Ba Tri nổi tiếng với làng nghề thủ công truyền thống nào?

a. Làng nghề sản xuất rượu ở xã Phú Lễ

b. Làng nghề thủ công mỹ nghệ sản phẩm chất liệu bằng dừa

c. Nghề đan lát

d. Câu a, c đúng

 

* VỀ CUỘC ĐỜI, SỰ NGHIỆP NHÀ THƠ YÊU NƯỚC NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU (24 CÂU)

Câu 1. Cụ Nguyễn Đình Chiểu sinh vào ngày, tháng, năm nào?

a. 1/7/1820

b. 1/7/1821

c. 1/7/1822

d. 1/7/1823

 

Câu 2. Cụ Nguyễn Đình Chiểu sinh ra tại làng Tân Thới, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định; theo đơn vị hành chính hiện nay là:

a. phường Bến Nghé, quận 1, TP. Hồ Chí Minh.

b. phường Cầu Kho, quận 1, TP. Hồ Chí Minh.

c. phường Tân Định, quận 1, TP. Hồ Chí Minh.

d. phường Bến Thành, quận 1, TP. Hồ Chí Minh.

 

Câu 3. Nguyễn Đình Chiểu thi đỗ tú tài vào năm:

a. 1842

b. 1843

c. 1844

d. 1845

 

Câu 4. Nhắc đến Nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu ngoài các áng thơ văn người ta còn ca ngợi tấm gương hiếu thảo của ông khi hay tin mẹ mất vì quá đau buồn, khóc thương khiến ông lâm trọng bệnh và mù cả hai mắt. Bạn hãy cho biết khi đó ông khoảng bao nhiêu tuổi?

a. 28 tuổi

b. 30 tuổi

c. 35 tuổi

 

Câu 5. Sau khi chịu tang mẹ, Nguyễn Đình Chiểu đã sống gắn bó với nhân dân bằng nghề:

a. Dạy học, sáng tác thơ văn

b. Dạy học, làm thuốc, sáng tác thơ văn

c. Làm thuốc, sáng tác thơ văn

 

Câu 6. Tác phẩm nào là truyện thơ đầu tiên do Nguyễn Đình Chiểu sáng tác?

a. Dương Từ - Hà Mậu

b. Lục Vân Tiên

c. Ngư tiều y thuật vấn đáp

 

Câu 7. Đây là loại hình nghệ thuật được ra đời từ sau khi truyện thơ Lục Vân Tiên, làm cho truyện thơ Lục Vân Tiên thêm hấp dẫn và dễ đi vào lòng người:

a. Ngâm thơ Lục Vân Tiên

b. Bình thơ Lục Vân Tiên

c. Nói thơ Lục Vân Tiên

d. Ngâm và bình thơ Lục Vân Tiên

 

Câu 8. Hai câu thơ nổi tiếng “Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẩm/ Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà” trích từ tác phẩm nào của Nguyễn Đình Chiểu?

a. Truyện thơ Lục Vân Tiên

b. Truyện thơ Dương Từ - Hà Mậu

c. Văn tế Nghĩa sĩ Cần Giuộc

d. Văn tế Nghĩa sĩ trận vong lục tỉnh

 

Câu 9. Bạn hãy cho biết hai câu thơ nổi tiếng “Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẩm/ Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà” được Nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu sáng tác tại đâu?

a. huyện Cần Giuộc

b. huyện Ba Tri

 

Câu 10. Sau khi Pháp chiếm thành Gia Định và 3 tỉnh miền Đông, không chịu sống trong vùng chiếm đóng của giặc, Nguyễn Đình Chiểu cùng gia đình về sống tại đâu?

a. làng An Đức, tổng Bảo An, tỉnh Vĩnh Long, nay là huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

b. làng An Đức, tổng Bảo An, tỉnh Trà Vinh, nay là huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

c. làng An Đức, tổng Bảo An, tỉnh Kiến Hòa, nay là huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

 

Câu 11. Tỉnh Bến Tre mang tên tỉnh Đồ Chiểu vào năm nào?

a. 1945 – 1947

b. 1946 – 1948

c. 1947 – 1949

d. 1948 – 1950

 

Câu 12. Di tích khu mộ và đền thờ Cụ Nguyễn Đình Chiểu thuộc ấp nào của xã An Đức, huyện Ba Tri?

a. Giồng Ké

b. Giồng Cục

c. Giồng Xoài

d. Giồng Cả

 

Câu 13. Di tích khu mộ và đền thờ Cụ Nguyễn Đình Chiểu được công nhận di tích lịch sử cấp Quốc gia vào thời gian nào?

a. 27/4/1990

b. 30/4/1990

c. 27/4/1991

d. 30/4/1990

 

Câu 14. Hai câu thơ sau trích trong tác phẩm nào của cụ Nguyễn Đình Chiểu?

“Thà đui mà giữ đạo nhà

Còn hơn có mắt ông cha không thờ”

a. Văn tế Nghĩa sĩ Cần Giuộc

b. Bài thơ “Chạy giặc”

c. Bài thơ “Thà đui”

c. Truyện thơ “Dương Từ - Hà Mậu”

 

Câu 15. Hãy điền từ đúng vào các câu thơ sau trích trong bài thơ “Ngóng gió đông” của Nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu:

“Hoa cỏ bùi ngùi ngóng gió đông

... đâu hỡi có hay không?

Mây giăng ải Bắc trông tin nhạn

Ngày xế non Nam bặt tiếng lòng”

a. Anh hùng

b. Chúa xuân

c. Người trung

 

Câu 16. Hai câu thơ sau trích trong tác phẩm nào của Cụ Nguyễn Đình Chiểu:

“Hỡi trang dẹp loạn rày đâu vắng

Nỡ để dân đen mắc nạn này”

a. Truyện thơ Lục Vân Tiên

b. Truyện thơ Dương Từ - Hà Mậu

c. Bài thơ “Chạy giặc”

d. Bài thơ “Ngóng gió đông”

 

Câu 17. Nữ sĩ Sương Nguyệt Anh là con thứ mấy của Nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu?

a. Thứ ba

b. Thứ tư

c. Thứ năm

c. Thứ sáu

 

Câu 18. Nữ sĩ Sương Nguyệt Anh là con gái của Nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu. Bà phụ trách tờ báo đầu tiên của phụ nữ được xuất bản tại Sài Gòn và là nữ chủ bút đầu tiên của Việt Nam. Bạn hãy cho biết tờ báo đó tên là gì?

  1. a. Nữ giới Sài Gòn
  2. b. Nữ giới Gia Định
  3. c. Nữ giới chung
  4. d. Nữ giới Nam kỳ

 

Câu 19. Nhà văn, soạn giả Nguyễn Đình Chiêm tác giả của các vở hát bộ Phấn Trang Lầu, Nam Tống tinh Trung... là con thứ mấy của Nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu?

a. Thứ ba

b. Thứ tư

c. Thứ năm

c. Thứ sáu

Câu 20. Nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu mất vào thời gian nào?

a. 3/7/1886

b. 3/7/1887

c. 3/7/1888

d. 3/7/1889

 

Câu 21. Các học trò xuất sắc của cụ Đồ Chiểu là:

a. Lê Văn Đẩu

b. Trần Văn An

c. Huỳnh Khắc Mẫn

d. Câu a, b, c đúng

 

Câu 22. Công lao của cụ Đồ Chiểu đối với truyền thống văn hóa của Bến Tre thể hiện ở chỗ:

a. Ông là tấm gương tiêu biểu cho các giá trị truyền thống văn hóa của người dân Bến Tre

b. Ông là người có công bảo vệ nét đẹp truyền thống văn hóa của Nam bộ nói chung, Bến Tre nói riêng

c. Ông là người có công truyền lại nét đẹp truyền thống văn hóa Nam bộ nói chung, Bến Tre nói riêng cho các thế hệ sau

d. Câu a, b, c đúng

Câu 23. Tác phẩm cuối đời của Nguyễn Đình Chiểu “Ngư tiều y thuật vấn đáp” là kết tinh y thuật trong hàng trăm bộ sách của nhiều thế kỷ. Tư tưởng chủ đạo của tác phẩm là:

a. Cứu người

b. Dạy đạo làm thầy thuốc

c. Dạy đạo làm người và đạo làm thầy thuốc cứu người

 

Câu 24. Nội dung chính của tác phẩm “Ngư tiều y thuật vấn đáp” của Nguyễn Đình Chiểu là:

a. Chống mê tín dị đoan chữa bệnh bằng phù phép huyền bí

b. Chống lừa bịp người bệnh, gian dối trong việc bán thuốc

c. Chống trị bệnh theo bá đạo, dùng thuốc hoặc châm cứu bừa bãi do thiếu học tập y lí; đề cao việc cứu chữa cho người nghèo khổ, chu cấp thuốc và tận tình giúp đỡ họ. Khuyên các thầy thuốc khiêm tốn học hỏi, không tự phụ chủ quan, không giáo điều sách vở.

d. Câu a, b, c đúng

 

* VỀ TRUYỆN THƠ LỤC VÂN TIÊN (10 CÂU)

Câu 1. Truyện thơ Lục Vân Tiên gồm bao nhiêu câu thơ lục bát?

a. 2080

b. 2081

c. 2082

d. 2083

 

Câu 2. Những đức tính nổi bật nhất của nhân dân ta được ca ngợi trong Truyện thơ Lục Vân Tiên (chọn câu trả lời đúng nhất):

a. Trung trinh, yêu nước

b. Nhân, lễ, trí, tín

c. Trung, hiếu, tiết, hạnh

d. Chung thủy, trung trinh

 

Câu 3. Hai câu thơ sau trích trong đoạn thơ nào của truyện thơ Lục Vân Tiên:

Nhớ câu kiến ngãi bất vi

Làm người thế ấy cũng phi anh hùng

 

a. Lục Vân Tiên đi thi

b. Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga

c. Lục Vân Tiên ra kinh thi đậu trạng nguyên

d. Trịnh Hâm hại Lục Vân Tiên

 

Câu 4. Lời đánh giá sau về tác phẩm Lục Vân Tiên là của ai?

“Phải hiểu đúng Lục Vân Tiên thì mới thấy hết giá trị của bản trường ca này. Đúng, đây là một bản trường ca ca ngợi chính nghĩa, những đạo đức đáng quý trọng ở đời, ca ngợi những người trung nghĩa”

a. Chủ tịch Hồ Chí Minh

b. Nhà bác học Trương Vĩnh Ký

c. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng

Câu 5. Bốn người bạn đồng hành đến trường thi của Lục Vân Tiên theo thứ tự gặp gỡ là:

a. Vương Tử Trực, Hớn Minh, Trịnh Hâm, Bùi Kiệm

b. Hớn Minh, Vương Tử Trực, Trịnh Hâm, Bùi Kiệm

c. Trịnh Hâm, Vương Tử Trực, Hớn Minh, Bùi Kiệm

d. Trịnh Hâm, Hớn Minh, Vương Tử Trực, Bùi Kiệm

 

Câu 6. Nhân vật nào ganh ghét Lục Vân Tiên tài cao, nhân lúc Lục Vân Tiên khóc mẹ mù mắt đã lừa và xô chàng xuống sông?

a. Võ Công

b. Đặng Sinh

c. Trịnh Hâm

d. Bùi Kiệm

 

Câu 7. Nhân vật nào cùng Lục Vân Tiên đánh tan giặc Ô Qua?

a. Vương Tử Trực

b. Hớn Minh

c. Bùi Kiệm

d. Đặng Sinh

 

Câu 8. Các câu thơ sau miêu tả nhân vật nào trong truyện thơ Lục Vân Tiên?

“Xa xem mặt mũi đen sì

Mình cao sồ sộ dị kỳ rất hung

Nhớ câu bình thủy tương phùng

Anh hùng lại gặp anh hùng một khi”

a. Vương Tử Trực

b. Hớn Minh

c. Trịnh Hâm

d. Bùi Kiệm

 

Câu 9. Nhân vật Kiều Nguyệt Nga mang phẩm chất cao quý nào của người phụ nữ Việt Nam (chọn 01 câu trả lời đúng nhất)?

a. Trung hậu, đảm đang

b. Trung trinh, tiết hạnh

c. Nhân nghĩa, thủy chung

Câu 10. Bạn hãy cho biết hai câu thơ sau trích trong đoạn thơ nào của truyện thơ Lục Vân Tiên?

“Trai thời trung hiếu làm đầu

Gái thời tiết hạnh là câu trau mình”

a. Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga

b. Lục Vân Tiên tạ thầy xin về đi thi

c. Lục Vân Tiên ra kinh thi đậu trạng nguyên

* VỀ XÂY DỰNG HÌNH MẪU THANH NIÊN ĐỒNG KHỞI MỚI (16 CÂU)

Câu 1: Những giá trị nào sau đây được xem là giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam

a. Lòng nồng nàn yêu nước, tinh thần bất khuất, ý chí độc lập tự cường dân tộc

b. Lòng yêu thương độ lượng sống nghĩa tình với con người

c. Tinh thần cần cù, sáng tạo, tiết kiệm trong lao động, sản xuất; truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo

d. Tất cả đều đúng

Câu 2: Mục đích của cuộc vận động xây dựng giá trị hình mẫu thanh niên Đồng Khởi mới là gì?

a. Xây dựng lớp thanh niên Bến Tre có đủ năng lực, phẩm chất đạo đức góp phần hình thành nguồn nhân lực chất lượng cao cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế xã hội tỉnh nhà.

b. Giáo dục đạo đức lối sống cho đoàn viên, thanh niên torng thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

c. Cỗ vũ thanh niên vượt qua khó khăn vươn lên trong cuộc sống, bản lĩnh dám đổi mới để lập nghiệp, khởi nghiệp vươn lên thoát nghèo và làm giàu

d. Tất cả đều đúng

Câu 3: Những biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của đoàn viên, thanh niên là:

a. Sa sút ý chí chiến đấu trong lao động học tập

b. Không chấp hành chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, bàng quan trước các sự kiện chính trị của đất nước

c. Lối sống thực dụng, xa hoa lãng phí

d. Tất cả các nội dung trên

Câu 4: Chỉ thị số 11-CT/TU ngày 8/6/2016 được Ban thường vụ Tỉnh ủy ban hành nhằm mục đích gì? Chọn đáp án đúng nhất

a. Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng trong việc phát huy các giá trị truyền thống văn hóa và phát triển toàn diện con người  Bến Tre

b. Nâng cao chất lượng phẩm chất, đạo đức, giá trị truyền thống của conn người Bến Tre

c. Tiếp tục nâng cao tinh thần yêu nước, giữ gìn giá trị truyền thống văn hóa của dân tộc, nâng cao phẩm chất đạo đức, lối sống của người dân Bến Tre

d. Tất cả đều đúng

Câu 5: Những đối tượng nào cần phải thực hiện tốt vai trò nêu gương trong xây dựng giá trị hình mẫu thanh niên Đồng Khởi mới?

a. Cán bộ Đoàn

b. Người đứng đầu cơ quan, đơn vị

c. Đoàn viên, thanh niên

d. Tất cả đều đúng

Câu 6: Để xây dựng thành công giá trị hình mẫu thanh niên Đồng Khởi mới, tổ chức Đoàn cần phải làm gì?

a. Thực hiện tốt công tác tuyên truyền

b. Thực hiện tốt công tác phối hợp với các ban, ngành đoàn thể

c. Phát huy vai trò nêu gương của cán bộ Đoàn, nâng cao bản lĩnh, ý thức trách nhiệm của thanh niên torng học tập loa động

d. Tất cả đều đúng

Câu 7: Một trong những danh hiệu cao quý  nhất của tuổi trẻ Bến Tre được của Ban Thường vụ Tỉnh đoàn dành tặng cho những cá nhân có thành tích xuất sắc trên các lĩnh vực lao động, học tập, văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao, học tập và làm theo tư tưởng đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là?

a. Thanh niên tiên tiến làm theo lời Bác

b. Thanh niên sống đẹp sống có ích

c. Tôi – Người Thanh niên Đồng Khởi mới

d. Tất cả đều đúng

Câu 8: Giá trị “Bản lĩnh” của thanh niên phải được thể hiện ở nội dung nào dưới đây?

a. Không chấp nhận hoàn cảnh nghèo, không có nghề nghiệp, học tập thua kém bạn bè từ đó xây dựng ước mơ vươn lên thoát nghèo, làm giàu chính đáng, vươn lên trong học tập và rèn luyện đạo đức, tác phong;

b. Biết từ bỏ việc xấu để trở thành người tốt cho xã hội.

c. Dám nghĩ, dám làm, dám chấp nhận thất bại để bước tiếp trên con đường lập nghiệp thông qua mạnh dạn thực hiện ý tưởng mới, sáng tạo để khởi nghiệp thành công

d. Tất cả đều đúng

Câu 9: Giá trị “Yêu nước” được thể hiện ở nội dung nào dưới đây?

a. Dám nghĩ, dám làm, dám chấp nhận thất bại để bước tiếp trên con đường lập nghiệp thông qua mạnh dạn thực hiện ý tưởng mới, sáng tạo để khởi nghiệp thành công

b. Phát huy tinh thần đoàn kết, hợp tác với các nước trên thế giới với tinh thần “hòa nhập, không hòa tan”, “tự hào, không tự cao”, “khiêm tốn, không tự ti”.

c. Phát huy vai trò nêu gương của từng cán bộ, đoàn viên, thanh niên trong rèn luyện đạo đức, lối sống, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

d. Tất cả đều sai

Câu 10. Giá trị “Tình nguyện” được thể hiện ở nội dung nào dưới đây? Chọn một câu trả lời đúng nhất

a. Xung phong tham gia các hoạt động xã hội, vì cuộc sống cộng đồng và các phong trào do Đoàn – Hội địa phương phát động; Tình nguyện tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

b. Xung kích đảm nhận việc mới, việc khó, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ

c. Thể hiện tinh thần tương thân tương ái, yêu thương đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ.

d. Tất cả đều đúng

Câu 11. Để xây dựng thành công giá trị hình mẫu người thanh niên Đồng Khởi mới “Yêu nước – Bản lĩnh – Hiếu thảo – Tình nguyện”, cán bộ đoàn viên, thanh niên cần phải nêu cao tinh thần

a. Đoàn kết,

b. quyết tâm

c. Nêu gương

d. Tất cả đều đúng

Câu 12. Giá trị “Hiếu thảo” được thể hiện ở nội dung nào dưới đây? Chọn đáp án sai

a. Thanh niên luôn lễ độ, làm tròn nghĩa vụ phụng dưỡng, chăm sóc ông bà, cha mẹ và những người có công nuôi dưỡng mình; hòa thuận với anh em trong gia đình.

b. Học tập tư tưởng “Hiếu với dân” của Bác Hồ để luôn là người công dân tốt, sống có trách nhiệm và luôn giúp đỡ người xung quanh.

c. Sống có nghĩa tình, trách nhiệm, yêu thương, giúp đỡ bạn bè, đồng nghiệp; kính trên nhường dưới; tôn trọng người lớn tuổi.

d. Xung kích đảm nhận việc mới, việc khó, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ

Câu 13. Đây là câu lời tâm sự trong một quyển nhật ký, hãy cho biết đây là lời của ai? “…Ta biết giấu mặt vào đâu, vào gấu quần hay gấu áo, khi đường Trường Sơn không có dấu chân ta? Khi cả cuộc đời ta chưa có cái niềm vui mãnh liệt của người chiến thắng, cắm cờ Tổ quốc trên cả nước thân yêu…”.

a. Võ Thị Sáu

b. Trần Văn Ơn

c. Đặng Thùy Trâm

d. Nguyễn Văn Thạc

Câu 14. Những yếu tố cần thiết tể thực hiện tốt cuộc vận động xây dựng giá trị hình mẫu thanh niên Đồng Khởi mới là:

a. Rèn luyện bền bỉ hàng ngày

b. Tự giác, nêu gương, thực hiện nói đi đôi với làm

c. Thực hiện xây đi đôi với chống

d. Tất cả đều đúng

 

Câu 15. Hành vi nào sau đây là không có văn hóa ứng xử trên mạng xã hội:

a. Chia sẻ bài viết mang nội dung kích động bạo lực

b. Dùng lời thô tục khi giao tiếp thông qua tin nhắn, bình luận, cảm nghĩ, videoclip, live stream …

c. Cả a, b đều đúng

d. Cả a, b đều sai

 

Câu 16. Hành vi nào sau đây là không có văn hóa khi sử dụng mạng xã hội? Chọn đáp án sai

a. Dùng lời thô tục khi giao tiếp thông qua tin nhắn, bình luận, cảm nghĩ, videoclip, live stream…

b. Đăng hình ảnh nhạy cảm của bản thân

c. Đăng hình ảnh của người khác khi chưa được phép

d. Chia sẻ thông tin về hoàn cảnh khó khăn của người xung quanh để kêu gọi sự giúp đỡ của cộng đồng

Cập nhật ngày
 
Đề cương Tuyên truyền kỷ niệm 70 năm Ngày Thương binh Liệt sỹ (27/7/1947 – 27/7/2017) PDF. In bài viết Email
Đề cương tuyên truyền
Tác giả: Ban Tuyên giáo Tỉnh đoàn tổng hợp   

I. Hoàn cảnh ra đời và ý nghĩa của Ngày Thương binh Liệt sỹ

1. Hoàn cảnh ra đời

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (nay là nước CHXHCN Việt Nam) ra đời chưa được bao lâu thì thực dân Pháp quay lại xâm lược nước ta một lần nữa. Với tinh thần “.... thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, quân và dân ta đã anh dũng chiến đấu chống lại quân xâm lược. Trong những năm đầu của cuộc kháng chiến quyết liệt chống thực dân Pháp, nhiều đồng bào, chiến sỹ đã ngã xuống, hy sinh một phần xương máu trên các chiến trường. Với truyền thống đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa”, Đảng, Chính phủ, Bác Hồ và nhân dân ta đã dành tất cả tình thương yêu cho các chiến sĩ và đồng bào đã vì độc lập, tự do của Tổ quốc mà bị thương hoặc hy sinh.

Đầu năm 1946, Hội giúp binh sĩ bị nạn ra đời ở Thuận Hóa (Bình Trị Thiên), rồi đến Hà Nội và một số địa phương khác... Sau đó ít lâu được đổi thành Hội giúp binh sĩ bị thương. Ở Trung ương có Tổng Hội và Chủ tịch Hồ Chí Minh được bầu là Chủ tịch danh dự của Tổng Hội.

Ngày 28-5-1946, Hội giúp binh sĩ bị nạn tổ chức một cuộc nói chuyện quan trọng tại Nhà hát Lớn Hà Nội để kêu gọi mọi người gia nhập Hội và hăng hái giúp đỡ các chiến sỹ bị thương, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến dự.

Ngày 17-11-1946, cũng tại Nhà hát Lớn Hà Nội, Hội Liên Hiệp Quốc dân Việt Nam đã tổ chức lễ xung phong “Mùa đông binh sỹ”, mở đầu cuộc vận động “Mùa đông binh sỹ” trong cả nước để giúp chiến sỹ trong mùa đông giá rét. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến dự buổi lễ và Người đã cởi chiếc áo đang mặc để tặng binh sỹ.

Khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ngày 19-12-1946, theo Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước đã nhất tề đứng dậy kháng chiến với tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Số người bị thương và hy sinh trong chiến đấu tăng lên, đời sống của chiến sỹ, nhất là những chiến sỹ bị thương gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn.

Trước tình hình trên, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra nhiều quyết định với những chính sách quan trọng về công tác thương binh, liệt sỹ, góp phần ổn định đời sống vật chất và tinh thần cho thương binh, gia đình liệt sỹ.

Ngày 16-2-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chính thức ký Sắc lệnh số 20/SL, quy định chế độ hưu bổng, thương tật và tiền tuất tử sĩ. Đây là văn bản pháp quy đầu tiên khẳng định vị trí quan trọng của công tác thương binh, liệt sỹ đối với cuộc kháng chiến và sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, Chính phủ đến thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sỹ.

Tháng 6-1947, đại biểu của Tổng bộ Việt Minh, Trung ương Hội phụ nữ Cứu quốc, Trung ương Đoàn thanh niên Cứu quốc, Cục Chính trị quân đội quốc gia Việt Nam, Nha Thông tin Tuyên truyền và một số địa phương đã họp tại Đại Từ (Bắc Thái) để bàn về công tác thương binh, liệt sỹ và thực hiện Chỉ thị của Hồ Chủ Tịch chọn một ngày nào đó làm ngày Thương binh Liệt sỹ. Tại cuộc họp này các đại biểu đã nhất trí chọn ngày 27 tháng 7 là ngày “Thương binh toàn quốc”. Từ đó hàng năm cứ vào dịp này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều gửi thư, quà thăm hỏi, động viên, nhắc nhở mọi người phải biết ơn và hết lòng giúp đỡ thương binh, gia đình liệt sỹ. Đặc biệt, từ sau Chiến thắng Điện Biên Phủ, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh càng quan tâm hơn đến công tác thương binh, liệt sỹ.

Từ tháng 7 năm 1955, Đảng và Nhà nước ta quyết định đổi “Ngày Thương binh toàn quốc” thành “Ngày Thương binh, Liệt sỹ” để ghi nhận những hy sinh lớn lao của đồng bào, chiến sĩ cả nước cho chiến thắng vẻ vang của toàn dân tộc.

Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, theo Chỉ thị 223/CT-TW ngày 8-7-1975 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, từ năm 1975, ngày 27 tháng 7 hằng năm chính thức trở thành “Ngày Thương binh, Liệt sỹ” của cả nước.

Mỗi năm cứ đến “Ngày Thương binh, Liệt sỹ” nhất là vào dịp kỷ niệm năm tròn, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta lại tổ chức nhiều hoạt động thiết thực, đầy tình nghĩa chăm sóc thương binh, gia đình liệt sỹ, người có công với cách mạng.

2. Ý nghĩa

Ngày Thương binh Liệt sỹ có ý nghĩa lịch sử, chính trị, xã hội sâu sắc, đó là:

- Truyền thống “hiếu nghĩa bác ái”, lòng quý trọng và biết ơn của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đối với những người đã hi sinh, cống hiến vì độc lập, tự do và thống nhất của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân; qua đó phát huy tinh thần yêu nước, củng cố và bồi đắp niềm tin vào sự nghiệp cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.

- Tôn vinh các anh hùng, liệt sỹ, thương binh và người có công; khẳng định sự cống hiến, hy sinh của họ cho độc lập, tự do của dân tộc, cho hạnh phúc của nhân dân là vô giá. Việc chăm sóc thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ và người có công là vinh dự, là trách nhiệm của các cấp, các ngành, tổ chức chính trị - xã hội và của mọi người, của thế hệ hôm nay và mai sau.

- Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trân trọng đánh giá cao những cống hiến, hy sinh to lớn của đồng bào, chiến sỹ đối với Tổ quốc; đồng thời cũng luôn chú trọng giáo dục ý thức trách nhiệm, nghĩa vụ công dân và lòng biết ơn sâu sắc của các tầng lớp nhân dân, của các thế hệ cách mạng đối với thương binh, liệt sỹ và người có công với cách mạng.

II. Một số thành tựu nổi bật trong công tác thương binh, liệt sỹ và người có công với cách mạng 70 năm qua

1. Xây dựng và thực hiện thống nhất trong cả nước một hệ thống chính sách, chế độ ưu đãi đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ, người có công với cách mạng

- Kể từ Sắc lệnh số 20/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành ngày 16/2/1947 đặt “chế độ hưu bổng thương tật và tiền tuất tử sỹ” đến nay, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng đã được nghiên cứu xây dựng, ban hành tương đối toàn diện, đầy đủ và kịp thời, bảo đảm chất lượng để từng bước cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước, là cơ sở pháp lý cho việc triển khai thực hiện đồng bộ các chính sách, chế độ ưu đãi đối với người có công và thân nhân; cơ bản đáp ứng yêu cầu đề ra.

- Nhiều vấn đề bất hợp lý do lịch sử để lại cũng như vấn đề mới nảy sinh trong quá trình chuyển đổi cơ chế và những tồn đọng về chính sách sau chiến tranh, như vấn đề xác nhận liệt sỹ, thương binh; chính sách ưu đãi đối với thanh niên xung phong, những người tham gia kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; chính sách ưu đãi về giáo dục - đào tạo, chăm sóc sức khỏe, cải thiện nhà ở, chế độ trợ cấp đối với một số đối tượng người có công với cách mạng được các cấp, các ngành quan tâm, giải quyết hiệu quả. 

- Việc xác nhận và giải quyết chế độ ưu đãi đối với người có công đạt được kết quả tích cực. Đến nay, toàn quốc đã xác nhận khoảng 9 triệu người có công, trong đó:

+ Người hoạt động cách mạng trước ngày 01-01-1945: gần 9.000 người.

+ Người hoạt động cách mạng từ ngày 01-01-1945 đến trước tổng khởi nghĩa 19/8/1945: 16.500 người.

+ Liệt sỹ: gần 1.2 triệu người; thân nhân liệt sỹ gần 500.000 người.

+ Bà mẹ Việt Nam anh hùng: trên 117.000 người.

+ Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động: gần 1.300 người.

+ Thương binh và người hưởng chính sách như thương binh: gần 600.000 người; thương binh loại B: trên 40.000 người.

+ Bệnh binh: gần 185.000 người.

+ Người hoạt động kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc hóa học: gần 312.000 người.

+ Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày: gần 111.000 người.

+ Người có công giúp đỡ cách mạng: 1.897.000 người.

+ Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ Quốc tế: gần 4,1 triệu người.

- Hiện cả nước có trên 1,4 triệu người có công và thân nhân đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng; qua rà soát, cơ bản người có công đã được hưởng đầy đủ các chế độ, chính sách của Đảng và Nhà nước. 

Theo kết quả rà soát năm 2014 của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội phối hợp với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, trong số 2.070.842 đối tượng được rà soát có 1.982.769 trường hợp (chiếm 95,75%) đã hưởng đủ chế độ; chỉ có 86.201 trường hợp, chiếm 4,16% kê khai là hưởng chưa đầy đủ; 1.872 trường hợp, chiếm 0,09% hưởng sai chính sách. 

2. Phong trào chăm sóc thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ và người có công với cách mạng phát triển sâu rộng từ Trung ương đến địa phương và đã đạt được hiệu quả thiết thực, thể hiện tình cảm, trách nhiệm và truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc

- Cấp ủy đảng, chính quyền các cấp đã tích cực triển khai và thực hiện có hiệu quả các phong trào chăm sóc thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ và người có công bằng những việc làm thiết thực thông qua: Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”, xây dựng nhà tình nghĩa, vườn cây tình nghĩa, sổ tiết kiệm tình nghĩa, chăm sóc bố, mẹ liệt sỹ già yếu cô đơn, con liệt sỹ mồ côi, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng. 

Từ năm 2007 đến năm 2017, cả nước đã đóng góp xây dựng Quỹ “Đền ơn, đáp nghĩa” hơn 3.481 tỷ đồng, trong đó, quỹ Trung ương hơn 41,36 tỷ đồng, quỹ địa phương hơn 3.440,4 tỷ đồng; xây dựng gần 90.000 nhà tình nghĩa, sửa chữa gần 75.000 nhà tình nghĩa với tổng trị giá gần 12.200 tỷ đồng; tặng gần 159.000 sổ tiết kiệm tình nghĩa trị giá gần 955.000 tỷ đồng. 

Thực hiện Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg, Chính phủ đã cấp cho các địa phương trên 2.450 tỷ đồng để hỗ trợ cho 80.000 hộ gia đình người có công khó khăn về nhà ở; 100% các mẹ Việt Nam anh hùng được các đơn vị nhận phụng dưỡng; 98% xã, phường làm tốt công tác Thương binh - Liệt sỹ, 97% người có công với cách mạng có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống người dân nơi cư trú.

- Bản thân thương binh, bệnh binh, gia đình chính sách, người có công với cách mạng cũng nỗ lực phấn đấu vươn lên trở thành những tấm gương tiêu biểu, điển hình nhân tố mới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội.

3. Công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sỹ, xây dựng, tu bổ nghĩa trang, công trình tưởng niệm liệt sỹ được chú trọng và đạt được kết quả tích cực


- Đảng, Nhà nước và quân đội đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và tăng cường quan hệ hợp tác quốc tế trong việc tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sỹ. Nhà nước đầu tư nâng cấp các trung tâm giám định ADN của các bộ, ngành nhằm đẩy nhanh việc xác định danh tính hài cốt liệt sỹ.

- Các cấp, các ngành, địa phương, đơn vị đã tích cực trong việc phát hiện, quy tập mộ liệt sỹ và ghi danh, ghi công liệt sỹ.

- Công tác thông tin, tuyên truyền phục vụ công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sỹ đã tạo sức lan tỏa trong các tầng lớp nhân dân. 

- Bằng phương pháp thực chứng, phương pháp giám định AND, các cơ quan chức năng đã quy tập, lấy mẫu hài cốt liệt sỹ, sinh phẩm thân nhân liệt sỹ, phân tích hàng chục nghìn trường hợp, góp phần phục vụ tích cực cho công tác tìm kiếm hài cốt liệt sỹ thời gian qua.  

Thời gian qua, cả nước đã tìm kiếm, quy tập được 939.462 hài cốt liệt sỹ; an táng tại 3077 nghĩa trang trong cả nước. 

- Việc xây dựng, tu bổ nghĩa trang, công trình tưởng niệm liệt sỹ được các cấp, các ngành chú trọng và đã đạt được những kết quả cụ thể. 

Hiện cả nước có 9.637 công trình ghi công liệt sỹ, bao gồm đài tưởng niệm, nhà bia ghi tên liệt sỹ, nghĩa trang liệt sỹ. Nhiều công trình trở thành công trình văn hóa, có giá trị về mỹ thuật, giáo dục truyền thống: Nghĩa trang Điện Biên Phủ, Nghĩa trang liệt sỹ Trường Sơn, Nghĩa trang Đường 9, Đền liệt sỹ Bến Dược, Khu tưởng niệm liệt sỹ thanh niên xung phong tại ngã ba Đồng Lộc; Truông Bồn, tỉnh Nghệ An...

III. Phát huy thành tựu đạt được, khắc phục hạn chế bất cập, tiếp tục đẩy mạnh công tác thương binh, liệt sỹ và người có công với cách mạng trong giai đoạn hiện nay

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã xác định: “Thực hiện chính tốt chính sách chăm sóc người có công trên cơ sở huy động mọi nguồn lực xã hội kết hợp với nguồn lực của Nhà nước; bảo đảm người có công có mức sống từ trung bình trở lên”. Để đạt được mục tiêu này, cần tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ giải pháp sau:

- Các cấp, các ngành cần chỉ đạo thực hiện tốt các chủ trương, chính sách ưu đãi khác về kinh tế - xã hội đối với người có công, đặc biệt quan tâm đến công tác giáo dục đào tạo, dạy nghề, tạo việc làm cho người có công và con em của họ; giúp đỡ thiết thực về vật chất và tinh thần đối với các đối tượng chính sách, nhất là đối tượng còn nhiều khó khăn để phấn đấu đến năm 2020 đạt 100% hộ người có công có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư nơi cư trú. Đồng thời, tiến hành rà soát, bổ sung và hoàn thiện hệ thống các chính sách ưu đãi đối với người có công cho phù hợp với tình hình của đất nước. Thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch mọi chính sách về người có công.


- Làm tốt hơn công tác tu bổ, tôn tạo các nghĩa trang liệt sỹ và công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sỹ, xác định danh tính liệt sỹ, thông báo và tạo điều kiện cho các gia đình người thân đến thăm viếng. Tiến hành sơ tổng kết, rút kinh nghiệm, phát hiện và nhân rộng những tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến trong công tác thương binh, liệt sỹ và người có công; qua đó thúc đẩy các phong trào "Đền ơn đáp nghĩa", “Toàn dân chăm sóc người có công với nước” phát triển rộng khắp, đi vào chiều sâu và đem lại hiệu quả thiết thực; đồng thời biểu dương những tấm gương thương binh, bệnh binh và người có công tiêu biểu.


- Đẩy mạnh và thực hiện tốt việc lập, xét duyệt hồ sơ thường xuyên; tập trung giải quyết hồ sơ đề nghị xác nhận người có công còn tồn đọng, nhất là những hồ sơ đã được xác lập trong những giai đoạn trước đây nhưng chưa được xem xét giải quyết do chưa bảo đảm thủ tục, coi đây là nhiệm vụ quan trọng.   


- Tạo mọi điều kiện thuận lợi để các thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ và người có công tiếp tục phát huy ý chí tự lực tự cường, phát triển sản xuất, cải thiện đời sống và tham gia các hoạt động xã hội, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng quê hương đất nước với phương châm “Nhà nước, nhân dân và những người được hưởng chính sách ưu đãi cùng phấn đấu”.


- Đẩy mạnh tuyên truyền truyền thống yêu nước và đạo nghĩa "Uống nước nhớ nguồn" trong các tầng lớp nhân dân, nhất là trong thế hệ trẻ, làm cho mọi người nhận thức sâu sắc và trân trọng tri ân công lao to lớn của các anh hùng - liệt sỹ và những người có công với nước; biến nhận thức và tình cảm tốt đẹp đó thành hành động thiết thực góp phần thực hiện tốt chính sách ưu đãi người có công với cách mạng.


IV. Một số hoạt động chính của tuổi trẻ Bến Tre trong dịp kỷ niệm 70 năm Ngày Thương binh Liệt sỹ

1. Cấp tỉnh

1- Tổ chức Lễ khánh thành khu tưởng niệm Liệt sỹ Anh hùng lực lượng vũ trang Nhân dân Trần Văn Ơn tại xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành (dự kiến tháng 7/2017).

2- Tổ chức Lễ Thắp nến tri ân các anh hùng liệt sỹ tại Nghĩa trang Liệt sỹ tỉnh (vào đêm 26/7/2017).

3- Phối hợp Hội Cựu Thanh niên xung phong tỉnh tổ chức khánh thành Nhà thờ Liệt sỹ thanh niên xung phong Anh hùng lực lượng vũ trang Nhân dân Lê Trung Kiên tại xã Lương Quới, huyện Giồng Trôm (dự kiến tháng 7/2017).

4- Tổ chức họp mặt giao lưu truyền thống 3 thế hệ gia đình thương binh, liệt sỹ (dự kiến tháng 7/2017).

5 - Phối hợp các sở, ngành tổ chức Lễ hoa đăng tri ân kỷ niệm 70 năm Ngày Thương binh Liệt sỹ (dự kiến vào đêm 27/7/2017).

6- Tổ chức Ngày hội “Thầy thuốc trẻ làm theo lời Bác tình nguyện vì cuộc sống cộng đồng cấp tỉnh” hướng đến chăm sóc sức khỏe cho Mẹ Việt Nam anh hùng, thương binh, gia đình liệt sỹ, cựu cán bộ Đoàn, cựu Thanh niên xung phong neo đơn (dự kiến tháng 7/2017).

7- Thực hiện công trình thanh niên cấp tỉnh “Khăn tay tri ân”“Ngày tri ân” (Từ tháng 5 đến tháng 7/2017).

* Đối với công trình “Khăn tay tri ân”

- Thời gian thực hiện: Từ 15/5/2017 đến 27/7/2017.

- Đối tượng tri ân: Mẹ Việt Nam Anh hùng, thương binh, gia đình liệt sỹ, gia đình thương binh đã qua đời.

- Đối tượng thực hiện công trình: Đoàn viên, thanh niên thuộc khối đoàn ngành, lực lượng vũ trang, đoàn viên là học sinh, sinh viên trường THPT Chuyên và các trường trung cấp, cao đẳng trên địa bàn tỉnh; đội viên các Liên đội trên địa bàn tỉnh.

- Nội dung công trình:

Mỗi địa phương phát động đoàn viên, thanh niên, đội viên thêu khăn tặng các đối tượng tri ân tại địa phương mình theo chỉ tiêu phân bổ.

Khối Đoàn tương đương huyện, thành phố thực hiện công trình tại địa phương do đơn vị chọn để thực hiện Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè 2017.

Ban Thường vụ Tỉnh đoàn chọn đơn vị huyện Châu Thành để tổ chức bàn giao công trình điểm cấp tỉnh. Các đơn vị còn lại chủ động tổ chức bàn giao trực tiếp công trình tại địa phương gắn với các hoạt động trong “Ngày tri ân”.

Quy cách khăn thêu quy định như sau:

+ Kích thước tối thiểu: 20cm x 30cm. Chất liệu vải tùy chọn, khuyến khích chọn màu vải trắng.

 

+ Trình bày: Đẹp, trang trọng, hình ảnh thêu tùy chọn đảm bảo có dòng chữ

“Kỷ niệm 70 năm Ngày Thương binh Liệt sỹ

Tuổi trẻ Bến Tre tri ân”

- Chỉ tiêu thực hiện công trình:

+ Huyện, Thành đoàn: Mỗi đơn vị ít nhất 200 chiếc khăn.

+ Đoàn Thanh niên Công an tỉnh, Đoàn khối các Cơ quan, Đoàn khối doanh nghiệp tỉnh, Đoàn trường THPT Chuyên Bến Tre: mỗi đơn vị ít nhất 40 chiếc khăn.

+ Đoàn trường Cao đẳng Bến Tre, Đoàn trường Cao đẳng Nghề Đồng Khởi: mỗi đơn vị ít nhất 60 chiếc khăn.

+ Đoàn trường Trung cấp Y tế, Trợ lý Thanh niên Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Trợ lý Thanh niên Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh: mỗi đơn vị ít nhất 20 chiếc khăn.

* Đối với công trình “Ngày tri ân”

- Thời gian thực hiện: Từ ngày 16/7/2017 đến 27/7/2017.

- Đối tượng tri ân: Mẹ Việt Nam Anh hùng, thương binh, gia đình liệt sỹ, gia đình thương binh đã qua đời; gia đình cựu cán bộ Đoàn, cựu Thanh niên xung phong neo đơn hoặc có hoàn cảnh khó khăn.

- Đối tượng thực hiện: Đoàn viên, thanh niên trên địa bàn toàn tỉnh, khuyến khích tập hợp đối tượng học sinh, thanh niên chưa ngoan khối trường học; thanh niên chậm tiến, có nguy cơ vi phạm pháp luật, thanh niên hoàn lương tại địa phương tham gia xem đây là hoạt động giáo dục đặc biệt cho đối tượng thanh niên đăc thù

- Nội dung thực hiện

Tổ chức cho đoàn viên, thanh niên đến tận gia đình đối tượng tri ân thực hiện việc chăm sóc sức khỏe, quét dọn và sửa chữa nhà, hỗ trợ thực hiện tiêu chí nông thôn mới (đào hố rác, hố xử lý nước thải, trồng hàng rào cây xanh...) và cùng nấu bữa cơm thân mật với gia đình kết hợp bàn giao công trình “Khăn tay tri ân”.

Sau hoạt động tổ chức cho đoàn viên, thanh niên viết “Nhật ký Ngày tri ân” ghi lại cảm xúc, suy nghĩ của đoàn viên, thanh niên. Nhật ký này có thể lưu giữ tại Chi đoàn hoặc trao lại cho gia đình thực hiện công trình, đồng thời lựa chọn trang nhật ký phù hợp tuyên truyền trên mạng xã hội.

- Chỉ tiêu công trình:

+ 100% Huyện, Thành đoàn, Đoàn Thanh niên Công an tỉnh, Đoàn khối, Đoàn tương đương và Đoàn trường học trực thuộc thực hiện ít nhất 01 Ngày tri ân cấp mình và chỉ đạo cơ sở triển khai tốt công trình trên địa bàn.

+ 100% Đoàn cơ sở khối ngành, lực lượng vũ trang (có thể tổ chức theo cụm) thực hiện ít nhất 01 Ngày tri ân cấp mình tại địa phương kết nghĩa.

+ 100% Chi đoàn ấp, khu phố (có thể tổ chức theo liên Chi đoàn nhưng không quá 3 Chi đoàn/cụm) thực hiện ít nhất 01 Ngày tri ân tại địa phương mình.

2.  Cấp huyện, thành phố và tương đương

Thực hiện tốt công tác tuyên truyền và tham gia các hoạt động cấp tỉnh theo Kế hoạch của Ban Thường vụ Tỉnh đoàn; đồng thời, tổ chức thực hiện ít nhất 07 công trình, hoạt động cấp mình, trong đó:

* Nội dung bắt buộc

1- Công trình “Khăn tay tri ân” “Ngày tri ân” đảm bảo ý nghĩa, tính giáo dục, chỉ tiêu được giao.

2- Vận động kinh phí xây dựng Nhà tình nghĩa, Nhà tình thương, Nhà nghĩa tình đồng đội cho người và gia đình có công.

3- Tổ chức hành trình theo bước chân những người anh hùng hoặc hành trình về địa chỉ đỏ gắn với Diễn đàn “Thanh niên Bến Tre yêu nước phải làm gì?” trong đợt cao điểm.

4- Tổ chức Lễ thắp nến tri ân các anh hùng liệt sỹ đồng loạt vào đêm 26/7/2017 tại 100% Nghĩa trang Liệt sĩ trên địa bàn.

5- Các Huyện, Thành đoàn: Chỉ đạo 100% Đoàn trường THPT trực thuộc, các Liên đội tổ chức hoạt động tìm hiểu danh nhân, anh hùng liệt sỹ trường mang tên trong đợt cao điểm.

Đoàn tương đương cấp huyện, thành phố: Tổ chức cuộc thi tìm hiểu cuộc đời, tấm gương Anh hùng Liệt sỹ trẻ tuổi tỉnh Bến Tre hoặc hoạt động khám bệnh, phát thuốc miễn phí cho người và gia đình người có công.

6- Tổ chức Ngày hội tuổi trẻ chăm sóc Nghĩa trang, Đền thờ Liệt sỹ đồng loạt vào ngày 16/7/2017.

* Nội dung tự chọn

1- Phối hợp tổ chức họp mặt con thương binh, gia đình liệt sỹ lồng ghép chương trình “Thắp sáng ước mơ khởi nghiệp tuổi trẻ Bến Tre”.

2- Phối hợp tổ chức giao lưu, nói chuyện truyền thống với nhân chứng lịch sử, thân nhân các anh hùng, liệt sỹ, người có công với cách mạng, cựu thanh niên xung phong.

3- Các hoạt động khác do đơn vị, địa phương sáng tạo tổ chức.

3. Cấp xã, phường, thị trấn

Thực hiện tốt công tác tuyên truyền và tham gia các hoạt động do Đoàn cấp trên tổ chức; đồng thời, tổ chức thực hiện ít nhất 04 công trình, hoạt động cấp mình, trong đó:

* Nội dung bắt buộc

1- Công trình “Khăn tay tri ân” “Ngày tri ân” đảm bảo ý nghĩa, tính giáo dục, chỉ tiêu được giao theo chỉ đạo của Đoàn cấp trên.

2- Hỗ trợ ngày công xây dựng Nhà tình nghĩa, Nhà tình thương, Nhà nghĩa tình đồng đội cho người và gia đình có công do Đoàn cấp trên hoặc các tổ chức, cá nhân khác vận động thực hiện.

3- Đối với xã, phường, thị trấn Đoàn: Tổ chức Lễ thắp nến tri ân các anh hùng liệt sỹ đồng loạt vào đêm 25/7/2017 tại 100% Đền thờ Liệt sỹ trên địa bàn.

Đối với Đoàn cơ sở  tương đương cấp xã, phường, thị trấn: Tham gia Ngày  Ngày hội tuổi trẻ chăm sóc Nghĩa trang, Đền thờ Liệt sỹ tại địa phương kết nghĩa đồng loạt vào ngày 16/7/2017.

* Nội dung tự chọn do đơn vị, địa phương sáng tạo tổ chức.

4. Cấp Chi đoàn

Thực hiện tốt công tác tuyên truyền trong đoàn viên, thanh niên và nhân dân tại địa phương, đơn vị; tham gia các hoạt động do Đoàn cấp trên tổ chức; đồng thời, tổ chức thực hiện ít nhất 03 công trình, hoạt động cấp mình, trong đó:

* Nội dung bắt buộc

1- Công trình “Khăn tay tri ân” “Ngày tri ân” đảm bảo ý nghĩa, tính giáo dục, chỉ tiêu được giao theo chỉ đạo của Đoàn cấp trên.

2- Tổ chức sinh hoạt Chi đoàn chuyên đề chủ điểm tháng 7 từ ngày 16/7 đến 27/7/2017 đảm bảo các nội dung: Hái hoa dâng chủ về Ngày Thương binh Liệt sĩ (hoặc xem video clip tùy điều kiện từng chi đoàn); tuyên truyền gương anh hùng liệt sỹ tại địa phương, đơn vị (ưu tiên anh hùng liệt sỹ trẻ tuổi nếu có), phát biểu cảm tưởng của đoàn viên liên hệ thực tiễn với thực hiện giá trị “Yêu nước” trong hình mẫu người thanh niên Đồng Khởi mới “Yêu nước – Bản lĩnh – Hiếu thảo – Tình nguyện”.

* Nội dung tự chọn do đơn vị, địa phương sáng tạo tổ chức.

5. Chỉ tiêu lớn toàn hoạt động

- 100% Huyện, Thành đoàn và tương đương triển khai tốt công trình “Khăn tay tri ân” “Ngày tri ân” theo chỉ đạo của Ban Thường vụ Tỉnh đoàn.

- Toàn tỉnh xây dựng 70 nhà tình nghĩa, nhà tình thương, nhà nghĩa tình đồng đội cho người và gia đình có công, trong đó:

+ Cấp huyện, thành phố: ít nhất 07 căn/đơn vị.

Lưu ý: Được tính chỉ tiêu cho các căn nhà do Ban Thường vụ Tỉnh đoàn vận động đem về địa phương, không được tính các căn nhà do Đoàn tương đương cấp Huyện, Thành đoàn vận động đem về địa phương.

+ Đoàn Thanh niên Công an tỉnh, Đoàn Khối các cơ quan, Đoàn khối Doanh nghiệp tỉnh: ít nhất 01 căn/đơn vị.

+ Trợ lý Thanh niên Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, Trợ lý Thanh niên Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh: ít nhất 01 căn/đơn vị.

+ Đoàn trường Cao đẳng Bến Tre chủ trì phối hợp Đoàn trường Cao đẳng Nghề Đồng Khởi, Đoàn trường Trung cấp Y tế, Đoàn trường THPT Chuyên: ít nhất 01 căn.

- Toàn tỉnh khám bệnh, phát thuốc miễn phí cho 7.000 lượt người và gia đình có công.

- Tổ chức Lễ Thắp nến tri ân tại 100% Nghĩa trang Liệt sỹ, Đền thờ Liệt sỹ trong toàn tỉnh.

(Đề cương có sử dụng nội dung tuyên truyền của Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng)

Cập nhật ngày
 
Đề cương tuyên truyền 106 năm Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5/6/1911-5/6/2017) gắn với kỷ niệm 127 năm Ngày sinh của Người (19/5/1890 - 19/5/2017) PDF. In bài viết Email
Đề cương tuyên truyền
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam   

I. Những nhân tố ảnh hưởng đến quyết định ra đi tìm đường cứu nước của người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành.

1. Phong trào yêu nước chống Pháp diễn ra sôi nổi nhưng đều thất bại

Những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp bắt tay vào khai thác thuộc địa lần thứ nhất. Xã hội Việt Nam bắt đầu có những biến chuyển và phân hoá. Sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản Pháp đã làm nảy sinh trong xã hội Việt Nam hai giai cấp mới: giai cấp tư sản và giai cấp vô sản. Cuộc vận động cải cách của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu ở Trung Quốc cũng có ảnh hưởng lớn đến Việt Nam. Các phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân ta diễn ra đa dạng, sôi nổi: phong trào có khuynh hướng dân chủ tư sản Đông Du, Đông kinh Nghĩa Thục, Duy Tân, Việt Nam Quang Phục Hội; phong trào chống sưu thuế của nông dân ở Trung kỳ; phong trào đánh Pháp như: vụ đầu độc binh lính Pháp ở Hà Nội, cuộc khởi nghĩa của nghĩa quân Yên Thế…

Các phong trào yêu nước chống Pháp trên đều thất bại. Nguyên nhân sâu xa là do thiếu đường lối chính trị đúng đắn, khoa học, thiếu sự lãnh đạo của một giai cấp tiên tiến. Giai cấp phong kiến, có vai trò tiến bộ nhất định trong lịch sử đã trở thành giai cấp phản động, bán nước, tay sai cho đế quốc. Giai cấp tư sản mới ra đời, còn non yếu với lực lượng kinh tế phụ thuộc và khuynh hướng chính trị cải lương, không có khả năng lãnh đạo cuộc đấu tranh chống đế quốc và phong kiến để giành độc lập tự do. Giai cấp nông dân và tiểu tư sản khao khát độc lập, tự do, hăng hái chống đế quốc và phong kiến, nhưng không thể vạch ra con đường giải phóng đúng đắn và không thể đóng vai trò lãnh đạo cách mạng. Cách mạng Việt Nam đứng trước cuộc khủng hoảng trầm trọng về đường lối cứu nước.

Nguyễn Tất Thành rất khâm phục tinh thần yêu nước của các sĩ phu, văn thân, chí sĩ xả thân vì nước, nhưng Người không tán thành đường lối cứu nước của các bậc tiền bối. Tư tưởng yêu nước của Nguyễn Tất Thành tuy lúc đó chưa gặp chủ nghĩa xã hội, nhưng đã thể hiện tầm vóc vượt trước quan điểm cứu nước đương thời. Người cho rằng, chủ trương của cụ Phan Chu Trinh yêu cầu người Pháp thực hiện cải lương chẳng khác gì “đến xin giặc rủ lòng thương”; chủ trương của cụ Phan Bội Châu nhờ Nhật giúp đỡ để đuổi Pháp chẳng khác nào “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”, chủ trương của cụ Hoàng Hoa Thám tuy thực tế hơn, nhưng không có hướng thoát rõ ràng, “còn mang nặng cốt cách phong kiến”.

Thất bại của các cụ Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh …nói lên một sự thật lịch sử là: không thể cứu nước trên lập trường phong kiến hay lập trường của giai cấp tư sản, tiểu tư sản. Các đường lối và phương pháp này đều không đáp ứng được yêu cầu giải phóng dân tộc trong điều kiện chủ nghĩa đế quốc đã trở thành hệ thống thế giới. Chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam đang đòi hỏi được đổi mới, đó là một nhu cầu cấp thiết của dân tộc lúc bấy giờ.

2. Những chuyển biến của tình hình chính trị thế giới

Vào nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản đã từ giai đoạn tự do cạnh tranh chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc và đã xác lập được sự thống trị trên phạm vi thế giới. Phần lớn các nước châu Á, châu Phi, châu Mỹ Latinh đã trở thành thuộc địa và phụ thuộc của chúng. Chủ nghĩa đế quốc vừa tranh giành xâu xé, vừa hùa với nhau để nô dịch các dân tộc nhỏ bé. Cùng với những mâu thuẫn cơ bản trong xã hội tư bản - mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và tư sản, chủ nghĩa đế quốc làm phát sinh mâu thuẫn mới - mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa đế quốc thực dân. Đời sống nhân dân ở các nước thuộc địa và phụ thuộc vô cùng cực khổ, trong đó có nhân dân Việt Nam dưới xiềng xích của chế độ thực dân Pháp. Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc bắt đầu phát triển và có xu hướng lan rộng.

3. Phẩm chất và trí tuệ của Nguyễn Tất Thành

Nguyễn Tất Thành sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống hiếu học, một địa phương có truyền thống yêu nước. Từ lúc tuổi còn nhỏ, Người sớm được tiếp cận với các tư tưởng lớn của phương Đông, hấp thụ vốn văn hóa truyền thống của dân tộc, Hán học và bước đầu tiếp xúc với văn hoá phương Tây. Chứng kiến chứng kiến cảnh khổ cực của người dân mất nước, tinh thần đấu tranh bất khuất của cha anh, Người càng yêu nước, thương dân sâu sắc và hun đúc những hoài bão lớn lao. Vốn có tư chất thông minh, tinh thần ham học hỏi, khả năng tư duy độc lập, tính ham hiểu biết và nhạy bén với cái mới, Người bị lôi cuốn bởi khẩu hiệu “tự do, bình đẳng, bác ái” và thôi thúc bởi ý định tìm hiểu “cái gì ẩn dấu sau” những từ đẹp đẽ đó ở chính nước sinh ra khẩu hiệu đó. Những tư tưởng tiến bộ của cuộc cách mạng ở Pháp năm 1789, thành tựu văn minh, tiến bộ của nhân loại ở Pháp và các nước châu Âu khác, đã thúc đẩy Người muốn đến tận nơi tìm hiểu. Đó chính là những lý do Nguyễn Tất Thành quyết định chọn nước Pháp, chọn châu Âu làm điểm đến đầu tiên trong cuộc hành trình đi tìm đường cứu nước năm 1911.

II. Hành trình tìm đường cứu nước và những chuyển biến trong nhận thức về con đường giải phóng dân tộc của Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc

1. Hành trang ban đầu của Nguyễn Tất Thành khi ra nước ngoài là tri thức về văn hóa phương Đông và phương Tây, lòng yêu nước nhiệt thành, tiếp thu có chọn lọc con đường cứu nước của các nhà yêu nước lớp trước và một dự định rõ rệt, lớn lao, đó là “xem nước Pháp và các nước khác, sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào ta”, đó là dự định đi tìm con đường cứu nước, cứu dân. Ngày 5 tháng 6 năm 1911, trên con tàu “Đô đốc Latouche Tréville”, từ bến cảng Nhà Rồng của Thành phố Sài Gòn, Nguyễn Tất Thành đã lên đường sang Pháp. Người làm bất cứ việc gì để sống và hoạt động (phụ bếp dưới tàu, làm bánh trong các khách sạn, cào tuyết, đốt lò, chụp ảnh…). Gần mười năm, vừa lao động kiếm sống, vừa tiến hành khảo sát thực tiễn nhiều nước tư bản và các nước thuộc địa, khảo sát các cuộc cách mạng ở các nước Pháp, Anh, Mỹ… Nguyễn Tất Thành đã có nhận thức quan trọng là: cách mạng tư sản là những cuộc cách mạng vĩ đại, nhưng là những cuộc cách mạng chưa đến nơi. Nó đã phá tan gông xiềng phong kiến cùng những luật lệ hà khắc và những ràng buộc vô lý để giải phóng sức lao động của con người. Cách mạng tư sản xây dựng lên một chế độ mới tiến bộ hơn xã hội phong kiến. Nhưng cách mạng xong rồi dân chúng vẫn khổ, vẫn bị áp bức, bóc lột và vẫn mưu toan làm cách mạng. Từ đó, Người đi đến kết luận, chúng ta đổ xương máu để làm cách mạng thì không đi theo con đường cách mạng này. Nguyễn Tất Thành đã tìm ra những mặt trái của xã hội phương Tây, nhận ra “ở đâu cũng có người nghèo khổ như xứ sở mình” do ách áp bức, bóc lột dã man, vô nhân đạo của bọn thống trị. Điều đó đã giúp Người có một nhận thức quan trọng: nhân dân lao động trên toàn thế giới cần đoàn kết lại để đấu tranh chống kẻ thù chung là giai cấp thống trị; cùng nhau thực hiện nguyện vọng chung là độc lập, tự do.

2. Sống hoà mình cùng nhân dân lao động và phong trào đấu tranh của công nhân Pháp, Nguyễn Ái Quốc say sưa hoạt động cách mạng, viết báo, hội họp, tuyên truyền, cổ động. Năm 1917, Nguyễn Tất Thành tham gia hoạt động trong phong trào của những người Việt Nam yêu nước tại Pháp. Thành công của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 có ảnh hưởng rất lớn đến tình cảm và nhận thức của Người. Đầu năm 1919, Nguyễn Tất Thành tham gia Đảng xã hội Pháp. Ngày 18/6/1919, với tên Nguyễn Ái Quốc, Người thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp gửi bản yêu sách tới Hội nghị Vécxây yêu cầu về quyền tự do, dân chủ, bình đẳng dân tộc cho nhân dân An Nam. Tám yêu cầu không được chấp nhận, nhưng đã vạch trần bản chất giả dối của các cường quốc thống trị, đồng thời cũng đem lại cho Nguyễn Ái Quốc một nhận thức tỉnh táo là các dân tộc muốn được giải phóng chỉ có thể dựa vào sức lực của bản thân mình.

3. Ra đi tìm đường cứu nước với tuổi đời còn rất trẻ và từ một xã hội thuộc địa, nửa phong kiến, lúc đó Nguyễn Ái Quốc chưa có một ý niệm rõ ràng về giai cấp, đấu tranh giai cấp, đảng chính trị, chủ nghĩa Mác - Lênin... Từ những hoạt động thực tiễn trên và đọc “Sơ thảo lần thứ nhất luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa” của V.I.Lênin đăng trên báo L’Humanité tháng 7/1920, Người đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin. Trong bối cảnh bấy giờ, có nhiều trí thức Việt Nam sống tại Pháp, nhưng Người đã thể hiện tính vượt trội của tư tưởng khi nhận ra được chân lý lớn nhất của thời đại. Luận cương đã giải đáp cho Nguyễn Ái Quốc những băn khoăn về con đường giành độc lập, tự do cho dân tộc, trả lời câu hỏi ai là người lãnh đạo, lực lượng tham gia và mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng ở các nước thuộc địa với cách mạng vô sản ở chính quốc… Luận cương đã ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành thế giới quan cộng sản của Nguyễn Ái Quốc.

4. Quá trình tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin của Nguyễn Ái Quốc ngày càng có hệ thống và hoàn thiện khi Người tham gia Đảng Cộng sản Pháp, học tập ở Đại học phương Đông, sống trong không khí sục sôi ở trung tâm phong trào cộng sản ở Nga, hoạt động trong Quốc tế Cộng sản. Nhận thức của Người về sức mạnh của nhân dân lao động thế giới, về mối quan hệ giữa các dân tộc bị áp bức, giữa cách mạng ở các nước thuộc địa và các nước chính quốc trong cuộc đấu tranh chống đế quốc, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản của giai cấp công nhân, về chính quyền cách mạng và sử dụng bạo lực cách mạng… ngày càng sâu sắc và có những luận điểm bổ sung, phát triển, sáng tạo. Sự kiện Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành Quốc tế Cộng sản và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp tháng 12/1920 là một mốc lịch sử quan trọng trong hành trình đi tìm đường cứu nước của Người, đánh dấu bước chuyển biến quyết định, nhảy vọt, thay đổi về chất trong nhận thức tư tưởng và lập trường chính trị của Người - từ một nhà yêu nước chân chính trở thành một chiến sĩ cộng sản. Đồng thời, sự kiện đó cũng đánh dấu một bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam, mở đầu quá trình kết hợp đấu tranh giai cấp với đấu tranh dân tộc, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, tinh thần yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Từ đây, cách mạng Việt Nam bắt đầu đi vào quỹ đạo của cách mạng vô sản. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, con đường cách mạng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội bắt đầu hình thành.

5. Đầu năm 1924, Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu (Trung Quốc). Tại đây, Người bắt đầu xây dựng những nhân tố bảo đảm cho cách mạng Việt Nam: truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, khơi dậy tinh thần đấu tranh của các tầng lớp nhân dân, xây dựng tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam, phát triển lực lượng cách mạng… Việc Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt do Người dự thảo được thông qua tại Hội nghị hợp nhất, chứng tỏ đến 1930, tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc về con đường cách mạng Việt Nam đã được hình thành cơ bản.

6. Sau hơn 30 năm xa Tổ quốc, ngày 28/1/1941, Nguyễn Ái Quốc trở về nước để trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh cách mạng. Một trang mới mở ra trong cuộc đời cách mạng của Người và cũng là bước ngoặt mới cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam.

* Việc tìm ra con đường cứu nước, con đường phát triển của dân tộc của Nguyễn Ái Quốc có ý nghĩa lịch sử to lớn, đó là:

- Đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, với học thuyết chủ nghĩa xã hội khoa học, Nguyễn Ái Quốc đã đặt nền móng cho lý luận cách mạng Việt Nam trong thời đại mới; chấm dứt khủng hoảng đường lối cứu nước triền miên từ giữa thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX; tìm thấy đường lối phát triển đúng đắn cho dân tộc, phù hợp với trào lưu tiến hoá chung của nhân loại và xu thế của thời đại.

- Hồ Chí Minh đã đem ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lênin soi đường cho phong trào yêu nước, chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam, làm cho chủ nghĩa yêu nước vươn lên tầm thời đại, trở thành chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh, mà sau này biểu tượng sáng chói trong hai cuộc kháng chiến lừng lẫy của dân tộc chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, trong công cuộc tái thiết và phát triển đất nước theo con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

- Với việc tìm ra con đường cứu nước, phát triển của dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh đã đóng góp to lớn, thiết thực chuẩn bị cho việc mở ra một giai đoạn phát triển mới của phong trào cách mạng vô sản nói chung, phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc trên thế giới và châu Á nói riêng.

III. Vai trò quan trọng, quyết định của Hồ Chí Minh trước những bước ngoặt của cách mạng Việt Nam.

1. Truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào nước ta, hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, khởi thảo Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt - Cương lĩnh đầu tiên của Đảng, xác định con đường của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội.

Xuất phát từ thực trạng đất nước, Nguyễn Ái Quốc không thành lập ngay đảng cộng sản mà thành lập một tổ chức cách mạng theo khuynh hướng mácxít để qua đó dần dần đưa chủ nghĩa Mác - Lênin vào quần chúng lao động, đó là Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Trong các tác phẩm, các bài báo, bài giảng của mình, Người đã kết hợp việc phổ biến lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin với việc giới thiệu những phương hướng cơ bản của cách mạng Việt Nam, vạch cho nhân dân ta con đường đi đến độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Đường Kách mệnh là một trong những tác phẩm có giá trị to lớn trên phương diện lý luận và thực tiễn, đóng vai trò quan trọng trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin ở Việt Nam những năm 20. Người tổ chức chuyển tài liệu, sách vở, báo chí về nước; gấp rút đào tạo cán bộ làm nòng cốt cho phong trào cách mạng; tổ chức tuyên truyền, cổ động tư tưởng cứu nước trong nhân dân; mở lớp huấn luyện chính trị tại Quảng Châu để trang bị cho các học viên những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, về những nguyên tắc hoạt động bí mật và kỹ năng thực hành các công việc vận động quần chúng; chọn những học viên ưu tú kết nạp vào nhóm bí mật, Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và cử về nước gây dựng phong trào…Việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin đã thúc đẩy sự phát triển những tổ chức cộng sản, tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam sau này. Phong trào “vô sản hoá” đã góp phần đẩy nhanh quá trình giác ngộ chủ nghĩa Mác - Lênin của giai cấp công nhân. Phong trào đấu tranh của nhân dân lao động được lãnh đạo, liên kết với nhau thành một làn sóng mạnh mẽ. Chủ nghĩa Mác - Lênin do Nguyễn Ái Quốc có công truyền bá, đã thật sự chiếm lĩnh được lòng tin của phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam.

Năm 1930, việc hợp nhất thành công các tổ chức cộng sản thành một đảng cộng sản duy nhất là công lao to lớn của Nguyễn Ái Quốc. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhất là đã vạch ra đường lối cách mạng đúng đắn (qua Chánh cương, Sách lược), có hệ thống tổ chức thống nhất, chặt chẽ, rộng khắp cả nước, là một bước ngoặt quyết định của lịch sử cách mạng Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc - người tìm ra con đường cứu nước, truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam; người tổ chức, sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam; người rèn luyện, cán bộ, đảng viên theo chuẩn mực của đảng Mác - Lênin chân chính, trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là người lãnh đạo, người đày tớ trung thành của nhân dân.

2. Bằng nhạy cảm chính trị thiên tài, Nguyễn Ái Quốc nhận thấy tình hình thế giới có chuyển biến lớn, Người gấp rút trở về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng. Người triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương Tám (5/1941). Đây là Hội nghị hoàn chỉnh thêm một bước sự chuyển hướng chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam được vạch ra từ Hội nghị Trung ương Sáu (11/1939). Tại Hội nghị này, Nguyễn Ái Quốc đã xác định nhiệm vụ dân tộc phải được đặt lên hàng đầu. Người khẳng định: Lúc này nếu quyền lợi của dân tộc không đòi lại được thì quyền lợi của bộ phận, của giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được. Người chỉ đạo thành lập một mặt trận rộng rãi và có tên thích hợp hơn Mặt trận Thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương để tập hợp lực lượng chống đế quốc. Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) ra đời với Chương trình cứu nước do chính Hồ Chí Minh dự thảo. Người chỉ đạo xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng căn cứ địa, tích cực chuẩn bị mọi mặt để sẵn sàng khởi nghĩa giành chính quyền. Đón bắt kịp thời thời cơ, Người và Đảng ta đã triệu tập Hội nghị toàn quốc của Đảng và Đại hội Quốc Dân ngày 16 và 17/8/1945 thống nhất ý chí toàn dân, quyết định Tổng khởi nghĩa, làm nên thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám 1945.

3. Nắm vững vị trí quan trọng của chính quyền cách mạng, với Tuyên ngôn độc lập, Người khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đặc biệt, với việc tổ chức thành công cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và sự ra đời Hiến pháp 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng lập Nhà nước cách mạng - Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Suốt chặng đường sau đó, bằng tầm nhìn văn hoá sâu rộng, kinh nghiệm chính trị phong phú và sáng tạo, Người đã lãnh đạo, tổ chức và xây dựng Nhà nước kiểu mới của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam, luôn phấn đấu vì độc lập tự do của dân tộc và hạnh phúc của nhân dân.

4. Với phương châm kháng chiến “toàn dân, toàn diện”, “trường kỳ và tự lực cánh sinh”, “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc”; với ý chí “không có gì quý hơn độc lập tự do”, “Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”, Người đã hiệu triệu được lòng yêu nước, ý chí quật cường của nhân dân Việt Nam trong hai cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Những tư tưởng chỉ đạo sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta trong thời điểm đất nước “ngàn cân treo sợi tóc” với thù trong, giặc ngoài năm 1946; trong Nghị quyết Trung ương 15 (tháng 1/1959) về đường lối cách mạng miền Nam; trong chỉ đạo thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược ở hai miền Nam - Bắc và cả tinh thần “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”… là những nhân tố quan trọng, quyết định làm nên thắng lợi và thể hiện tinh thần nhân văn cao cả của dân tộc Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam trong xu thế thời đại, phát huy được sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại trong cuộc chiến đấu vì chính nghĩa của dân tộc. Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội - lá cờ bách chiến, bách thắng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được toàn Đảng, toàn dân, toàn quân giương cao, đưa Việt Nam thành lương tâm và khí phách của thờì đại.

5. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng sáng tạo lý luận về chủ nghĩa xã hội của học thuyết Mác - Lênin vào điều kiện Việt Nam. Chủ nghĩa xã hội - con đường phát triển của dân tộc mà Người đã lựa chọn, đang từng bước được hiện thực hóa sinh động trên đất nước Việt Nam.

IV. Những đóng góp to lớn của Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác-Lênin và cách mạng vô sản thế giới.

1. Hồ Chí Minh - nhà chính trị, nhà tư tưởng, người chiến sĩ cộng sản lỗi lạc của phong trào cộng sản, phong trào công nhân quốc tế: Từ khi rời Tổ quốc đi tìm con đường giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh sớm nhận thức muốn hoạt động cách mạng cần phải tham gia các tổ chức và hoà mình vào phong trào đấu tranh cách mạng. Người đã hoạt động trong phong trào của người Việt Nam yêu nước và phong trào công nhân Pháp, tham gia Đảng Xã hội Pháp; sinh hoạt trong Câu lạc bộ Phôbua; tham gia sáng lập Hội Liên hiệp thuộc địa; chủ nhiệm kiêm chủ báo Người cùng khổ; tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp; tham gia Quốc tế Cộng sản, hoạt động trong Quốc tế Nông dân; tham gia thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức… Những hoạt động đầy nhiệt huyết của Người - với tư cách nhà chính trị, nhà tư tưởng, người chiến sĩ cộng sản quốc tế đã in dấu đậm nét trong lịch sử cách mạng vô sản thế giới. Trong quá trình hoạt động cách mạng, nhiều lần phải sống trong thiếu thốn, khổ cực, nguy hiểm, tù đày, thậm chí bị hiểu lầm, nhưng trong hoàn cảnh nào, Người cũng có một niềm tin sắt son vào chủ nghĩa Mác - Lênin, nêu cao ý chí, bản lĩnh và phẩm chất của người chiến sĩ cộng sản.

2. Hồ Chí Minh có công truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều nước trên thế giới. Nhiều bài báo của Người đã được đưa vào tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, xuất bản năm l925, một công trình nghiên cứu về bản chất của chủ nghĩa thực dân, thức tỉnh và cổ vũ nhân dân các nước thuộc địa đứng lên tự giải phóng. Hoạt động trong tổ chức Quốc tế Cộng sản, Người tích cực đưa lý luận Mác - Lênin vào phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa; kiên trì bảo vệ, phát triển sáng tạo những quan điểm của V.I Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa; hướng sự quan tâm của Quốc tế Cộng sản tới phong trào giải phóng dân tộc. Với trách nhiệm là Ủỷ viên Ban phương Đông của Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản, Người hướng dẫn và xây dựng phong trào cách mạng, phong trào cộng sản ở các nước châu Á và xúc tiến thành lập đảng cộng sản ở Việt Nam.

3. Sức lan toả của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam do Hồ Chí Minh lãnh đạo đối với các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc rất mạnh mẽ. Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc và chủ nghĩa xã hội đã ảnh hưởng sâu sắc tới phong trào cách mạng ở hàng trăm nước thuộc địa và phụ thuộc ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh. Hàng loạt các phong trào giải phóng dân tộc liên tiếp nổ ra ở các nước Á, Phi và Mỹ Latinh rộng lớn trong suốt các thập kỷ 50, 60 và 70 của thế kỷ XX. Hệ thống thuộc địa thế giới đã từng được chủ nghĩa thực dân đế quốc xây dựng ròng rã trong 500 năm đã nhanh chóng sụp đổ hoàn toàn chỉ trong vòng chưa đầy 50 năm sau mốc son Việt Nam mang đậm dấu ấn Hồ Chí Minh.

4. Chủ tịch Hồ Chí Minh có những đóng góp quan trọng với lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, thể hiện ở một số nội dung chủ yếu sau: Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa không hoàn toàn phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở các nước chính quốc, nhân dân các dân tộc ở các nước thuộc địa có thể đứng lên tự giải phóng chính mình và cuộc cách mạng có thể thắng lợi trước. Đây là những cống hiến quan trọng vào kho tàng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin.

Xuất phát từ tình hình ở các nước tư bản, Lênin đã nêu luận điểm Đảng Cộng sản là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác với phong trào công nhân. Xuất phát từ tình hình Việt Nam, Hồ Chí Minh nhận thấy việc ra đời của Đảng Cộng sản ở đây nếu chỉ kết hợp chủ nghĩa Mác -Lênin với phong trào công nhân thì chưa đủ, vì giai cấp công nhân còn nhỏ bé và phong trào còn non yếu, do đó phải kết hợp cả với phong trào yêu nước rộng lớn của các tầng lớp nhân dân đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân. Đảng cộng sản Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Hồ Chí Minh còn đi đến kết luận: Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân, đồng thời là Đảng của dân tộc Việt Nam. Đây là những luận điểm mới của Hồ Chí Minh, bổ sung vào học thuyết về Đảng Cộng sản của chủ nghĩa Mác - Lênin.

Các Mác, Ăngghen xác định, quần chúng làm cách mạng là giai cấp công nhân, nông dân. Lênin, trong cách mạng vô sản Nga, xác định quần chúng cách mạng là công nhân, nông dân và binh lính. Đối với Hồ Chí Minh, lực lượng cách mạng là “cả quần chúng”, bao gồm: giai cấp công nhân - giai cấp lãnh đạo cách mạng, giai cấp nông dân - cùng với công nông là gốc của cách mạng, tiểu tư sản, trí thức, phú nông, trung, tiểu địa chủ, tư sản dân tộc, các cá nhân yêu nước, “Bị áp bức dân tộc và vô sản giai cấp thế giới”. Quan điểm này của Người không chỉ đúng trong cách mạng giải phóng dân tộc mà còn trong sự nghiệp xây dựng đất nước ngày nay.

Hồ Chí Minh có những sáng tạo độc đáo trong các bước đi giành và bảo vệ nền độc lập dân tộc; luận giải khoa học, sâu sắc về mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, ưu tiên giải quyết vấn đề dân tộc trước, giải quyết vấn đề dân chủ từng bước. Bảo vệ nền độc lập dân tộc đã giành được bằng biện pháp hòa bình, nhưng khi kẻ thù đã dùng chiến tranh xâm lược để áp đặt sự nô dịch mới, thì cần dựa vào và phát huy sức mạnh của cả dân tộc để bảo vệ nền độc lập dân tộc. Để bảo vệ nền độc lập dân tộc chân chính, cần xây dựng một xã hội mới là xã hội xã hội chủ nghĩa. Độc lập dân tộc để xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công và xây dựng chủ nghĩa xã hội để bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc.

Trong di sản tư tưởng của Người, có cả một hệ thống những chỉ dẫn khoa học về cách thức, biện pháp, bước đi trong thực hiện công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội của Hồ Chí Minh thấm nhuần sâu sắc không chỉ tính khoa học, cách mạng mà còn có nhiều luận điểm bổ sung từ góc độ đạo đức, văn hoá, nhân văn.

V. Phát huy thắng lợi vĩ đại của đất nước trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội; thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011); tiếp tục triển khai thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”

1. Đảng ta kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, luôn tìm tòi, làm sáng tỏ hơn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, khẳng định quyết tâm tiếp nối con đường đó trong các văn kiện đại hội của Đảng, nhất là trong các Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”. Mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ là: “xây dựng được về cơ bản nền kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hoá phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh, hạnh phúc”.

2. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nêu cao tinh thần trách nhiệm và nỗ lực thực hiện con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn, nhất là những điều căn dặn trong Di chúc của Người về điều kiện bảo đảm sự bền vững của con đường đó: bảo vệ độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, tổ chức một đời sống xã hội ưu việt, đầy tính nhân văn và thực sự đem cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, bồi dưỡng thế hệ trẻ sống có lý tưởng, có hoài bão, có phẩm chất đạo đức trong sáng, có lòng yêu nước nồng nàn để tiếp tục sự nghiệp cách mạng của ông cha, thực hiện đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế…

3. Hơn bốn năm qua, Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã được triển khai sâu rộng trong các tổ chức của hệ thống chính trị và toàn xã hội và đã tạo được những chuyển biến quan trọng. Để phát huy những kết quả đó, trách nhiệm của mỗi cấp uỷ, các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước, mỗi cán bộ đảng viên và mọi tầng lớp nhân dân cần tiếp tục thực hiện có hiệu quả Cuộc vận động này, gắn liền với những nhiệm vụ về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng, đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

4. Hiện nay, các thế lực thù địch đang tấn công vào chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Chúng tìm mọi cách xuyên tạc, bôi nhọ cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng của Người với ý đồ đen tối “lật đổ thần tượng Hồ Chí Minh”, đánh vào nền tảng tư tưởng của Đảng ta, phủ định con đường cách mạng Việt Nam... Trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân là bảo vệ những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên quyết đấu tranh bác bỏ mọi luận điệu thâm hiểm của các thế lực thù địch, phản động. Tiếp tục nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới. Đó chính là sự bảo vệ đúng đắn nhất chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng ta, vững bước đi theo con đường của Hồ Chí Minh đã chọn, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Kỷ niệm sự kiện 106 năm Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước gắn với kỷ niệm 127 năm Ngày sinh của Người, chúng ta càng hiểu rõ hơn về cuộc đời cách mạng và tư tưởng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây cũng dịp cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu sâu sắc hơn về những cống hiến to lớn của Người đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam và thế giới. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nguyện thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội do Đảng hoạch định tại Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, được bổ sung, phát triển năm 2011. Đó là tấm lòng tri ân sâu sắc của toàn dân tộc đối với công lao vĩ đại của Lãnh tụ Hồ Chí Minh.

BAN TUYÊN GIÁO TRUNG ƯƠNG

Cập nhật ngày
 
ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN 86 năm Đoàn TNCS Hồ Chí Minh (26/3/1931-26/3/2017) PDF. In bài viết Email
Đề cương tuyên truyền
Tác giả: Ban Tuyên giáo Tỉnh đoàn   

Năm 2017 đánh dấu chặng đường 86 năm lịch sử vẻ vang của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và tuổi trẻ Việt Nam. Đây là dịp quan trọng để mỗi đoàn viên, thanh niên ôn lại lịch sử, truyền thống hào hùng của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, đồng thời là cơ hội để chúng ta thể hiện trách nhiệm và vai trò của tuổi trẻ trong việc kế thừa và phát huy truyền thống, xung kích, sáng tạo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Cập nhật ngày
Đọc thêm...
 
THỂ LỆ Cuộc thi sáng tác bài hát (ca khúc) cổ động, tuyên truyền Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XI, nhiệm kỳ 2017-2022. PDF. In bài viết Email
Đề cương tuyên truyền
Tác giả: Nguồn: Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh   

1. Đối tượng dự thi: Công dân Việt Nam đang sinh sống, làm việc, học tập, lao động ở trong nước và ngoài nước, người nước ngoài đang sinh sống, làm việc, học tập, lao động tại Việt Nam đều có thể tham gia các Cuộc thi.

2. Số lượng tác phẩm dự thi: Không hạn chế.

3. Thời hạn dự thi: Ban Tổ chức cuộc thi nhận tác phẩm dự thi từ ngày phát động (15/02/2017) đến hết ngày 15/8/2017.

4. Nơi nhận bài dự thi, hồ sơ dự thi:

4.1. Nơi nhận bài dự thi: Bài dự thi có thể gửi qua đường bưu điện hoặc gửi trực tiếp về Ban Văn hóa Nghệ thuật Báo Thanh Niên, địa chỉ tại 268-270 Nguyễn Bình Chiểu, Q3, Tp. Hồ Chí Minh; ĐT: (08) 39309656; nếu gửi qua bưu điện ngoài phong bì ghi rõ thông tin tham gia cuộc thi (họ tên, địa chỉ, số điện thoại liên hệ).

4.2.  Hồ sơ dự thi:

- Phiếu đăng ký dự thi bao gồm các nội dung: Tên tác giả đăng ký dự thi, nghệ danh (nếu có); chủ đề tác phẩm dự thi; ngày, tháng, năm sinh; số chứng minh nhân dân; địa chỉ liên hệ; số điện thoại liên lạc; số lượng tác phẩm dự thi và tác phẩm dự thi (trong trường hợp tác phẩm dự thi có đồng tác giả thì ghi đầy đủ thông tin của các tác giả).

- Bài dự thi gồm: Bản ký âm bài hát (ghi rõ tác giả phần lời và phần nhạc), được đánh máy hoặc viết tay rõ ràng trên khổ giấy A4, kèm theo đĩa CD thu âm tác phẩm.

5. Gợi ý nội dung, hình thức tác phẩm dự thi:

- Thể hiện được ý nghĩa của Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XI là sự kiện chính trị quan trọng của tuổi trẻ cả nước. Thể hiện được tinh thần khẩu hiệu hành động của Đại hội XI, nhiệm kỳ 2017-2022 là: “Tiên phong- Gương mẫu- Đoàn kết- Sáng tạo”.

- Thể hiện được nội dung cổ vũ thanh thiếu nhi thi đua học tập, khởi nghiệp, lao động sáng tạo, tinh thần tình nguyện, xung kích xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Khắc họa nổi bật về những giá trị hình mẫu đoàn viên, thanh niên, đội viên thời kỳ mới “Tâm trong, trí sáng, hoài bão lớn”.

- Thể hiện được mục tiêu công tác đoàn và phong trào thanh thiếu nhi nhiệm kỳ 2017 - 2022 là: Xây dựng lớp thanh niên có lý tưởng cách mạng, giàu lòng yêu nước, có đạo đức, lối sống lành mạnh, tiên phong, gương mẫu, tuân thủ pháp luật, yêu chuộng hòa bình và công lý. Cổ vũ thanh niên thi đua học tập, khởi nghiệp, lao động sáng tạo, làm chủ khoa học, công nghệ hiện đại; phát huy tinh thần tình nguyện, xung kích trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; thể hiện được các phong trào trọng tâm triển khai trong nhiệm kỳ này như: Phong trào Thanh niên tình nguyện, Phong trào Tuổi trẻ sáng tạo, Phong trào Tuổi trẻ xung kích xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

- Kế thừa những giá trị truyền thống của Đoàn qua lịch sử các kỳ Đại hội, khẳng định vai trò và những đóng góp to lớn của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

- Ca ngợi phẩm chất đạo đức, tư tưởng, tinh thần ý chí, hoài bão, khát vọng cống hiến, khát vọng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của tuổi trẻ trong thời kỳ mới.

6. Quy định về tác phẩm dự thi:

- Tác phẩm dự thi phải là những sáng tác mới, chưa được sử dụng, chưa được công bố hoặc được công bố từ thời điểm phát động cuộc thi nhưng chưa tham gia bất kỳ cuộc thi nào trong và ngoài nước

- Tác giả phải chịu trách nhiệm về mặt pháp lý đối với tác phẩm của mình, đảm bảo không có tranh chấp bản quyền. Nếu tác phẩm được trao giải vi phạm pháp luật bản quyền, Ban Tổ chức, Hội đồng giảm khảo sẽ xem xét thu hồi giải thưởng và thông báo rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng.

- Ban Tổ chức không trả lại sản phẩm tham dự cuộc thi trong bất ký trường hợp nào và được toàn quyền sử dụng tác phẩm đoạt giải để phục vụ các hoạt động tuyên truyền Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XI.

- Tác phẩm có thể có được thể hiện dưới mọi phong cách, thể loại âm nhạc.

- Lời bài hát bằng tiếng Việt, trong sáng, dễ nhớ, dễ thuộc mang tính cộng đồng cao; ca từ và nội dung bài hát (ca khúc) không vi phạm thuần phong mỹ tục của dân tộc, nằm trong khuôn khổ cho phép của pháp luật và bám sát chủ đề sáng tác.

7. Cơ cấu giải thưởng:

- 01 giải nhất: Được chọn làm bài hát chính thức của Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XI; chứng nhận của Ban Tổ chức kèm theo tiền thưởng: 20.000.000đ. Tác giả được mời làm đại biểu khách mời dự Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XI. Tác giả còn trong độ tuổi đoàn viên được mời tham gia hành trình Tuổi trẻ vì biển đảo quê hương năm 2018 (nếu điều kiện cho phép).

- 01 giải nhì: Chứng nhận của Ban Tổ chức kèm theo tiền thưởng: 10.000.000đ

- 01 giải ba: Chứng nhận của Ban Tổ chức kèm theo tiền thưởng: 5.000.000đ

- 07 giải khuyến khích: Chứng nhận của Ban Tổ chức kèm theo tiền thưởng: 2.000.000 đ.

Trong trường hợp cần thiết, Ban Tổ chức Cuộc thi xem xét quyết định điều chỉnh cơ cấu giải thưởng cho phù hợp.

BAN TỔ CHỨC

Cập nhật ngày
 
THỂ LỆ Cuộc thi sáng tác biểu trưng (lô gô) Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XI, nhiệm kỳ 2017-2022. PDF. In bài viết Email
Đề cương tuyên truyền
Tác giả: Nguồn: Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh   

1. Đối tượng dự thi: Công dân Việt Nam đang sinh sống, làm việc, học tập, lao động ở trong nước và ngoài nước, người nước ngoài đang sinh sống, làm việc, học tập, lao động tại Việt Nam đều có thể tham gia các Cuộc thi.

2. Số lượng tác phẩm dự thi: Không hạn chế.

3. Thời hạn dự thi: Ban Tổ chức cuộc thi nhận tác phẩm dự thi từ ngày phát động (15/02/2017) đến hết ngày 15/5/2017.

4. Nơi nhận bài dự thi, hồ sơ dự thi:

4.1. Nơi nhận bài dự thi: Bài dự thi có thể gửi qua đường bưu điện hoặc gửi trực tiếp về Ban Thanh niên Báo Tiền Phong, địa chỉ tại 15 Hồ Xuân Hương, Q. Hai Bà Trưng, Hà Nội; ĐT: (04) 39434031-120; nếu gửi qua bưu điện ngoài phong bì ghi rõ thông tin tham gia cuộc thi (họ tên, địa chỉ, số điện thoại liên hệ).

4.2.  Hồ sơ dự thi:

- Phiếu đăng ký dự thi bao gồm các nội dung: Tên tác giả đăng ký dự thi, nghệ danh (nếu có); chủ đề tác phẩm dự thi; ngày, tháng, năm sinh; số chứng minh nhân dân; địa chỉ liên hệ; số điện thoại liên lạc; số lượng tác phẩm dự thi và tác phẩm dự thi (trong trường hợp tác phẩm dự thi có đồng tác giả thì ghi đầy đủ thông tin của các tác giả).

- Bài dự thi gồm: Tác phẩm dự thi in màu (khổ A4) có kèm theo phần trình bày ý tưởng sáng tác, đĩa mềm file thiết kế.

5. Gợi ý nội dung, hình thức tác phẩm dự thi:

5.1. Nội dung:

- Thể hiện được ý nghĩa của Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XI là sự kiện chính trị quan trọng của tuổi trẻ cả nước. Thể hiện được tinh thần khẩu hiệu hành động của Đại hội XI, nhiệm kỳ 2017-2022 là: “Tiên phong- Gương mẫu- Đoàn kết- Sáng tạo”.

- Thể hiện được nội dung cổ vũ thanh thiếu nhi thi đua học tập, khởi nghiệp, lao động sáng tạo, tinh thần tình nguyện, xung kích xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Khắc họa nổi bật về những giá trị hình mẫu đoàn viên, thanh niên, đội viên thời kỳ mới “Tâm trong, trí sáng, hoài bão lớn”.

- Thể hiện được mục tiêu công tác đoàn và phong trào thanh thiếu nhi nhiệm kỳ 2017 - 2022 là: Xây dựng lớp thanh niên có lý tưởng cách mạng, giàu lòng yêu nước, có đạo đức, lối sống lành mạnh, tiên phong, gương mẫu, tuân thủ pháp luật, yêu chuộng hòa bình và công lý. Cổ vũ thanh niên thi đua học tập, khởi nghiệp, lao động sáng tạo, làm chủ khoa học, công nghệ hiện đại; phát huy tinh thần tình nguyện, xung kích trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; thể hiện được các phong trào trọng tâm triển khai trong nhiệm kỳ này như: Phong trào Thanh niên tình nguyện, Phong trào Tuổi trẻ sáng tạo, Phong trào Tuổi trẻ xung kích xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

- Kế thừa những giá trị truyền thống của Đoàn qua lịch sử các kỳ Đại hội, khẳng định vai trò và những đóng góp to lớn của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

- Ca ngợi phẩm chất đạo đức, tư tưởng, tinh thần ý chí, hoài bão, khát vọng cống hiến, khát vọng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của tuổi trẻ trong thời kỳ mới.

5.2. Hình thức:

- Tác phẩm dự thi được vẽ trên giấy trắng, khổ A4, màu tự chọn. Có sử dụng huy hiệu Đoàn; có thể sử dụng chữ số Latinh (số 11) hoặc sử dụng chữ số La Mã (XI) để thể hiện số kỳ của Đại hội.

- Các tác phẩm tham dự ngoài gửi bài dự thi phải gửi kèm bản thuyết trình ngắn gọn, súc tích. Tác phẩm kèm theo 01 CD file gốc thiết kế theo đúng kích thước.

- Hình thức sáng tạo, đơn giản, mang tính khả thi trong thi công.

- Tác phẩm dự thi được vẻ trên giấy trắng dày, cứng hoặc các phần mềm đồ họa với màu tự chọn. Chú ý đến phương án có thể thu nhỏ (để làm phù hiệu đeo) và có thể thực hiện trên nhiều chất liệu như: đồng, nhôm, gỗ, pha lê... (Cùng với mẫu sản phẩm có 01 mẫu thu nhỏ khoảng 3 - 4 cm2).

6. Quy định về tác phẩm dự thi:

- Tác phẩm dự thi phải là những sáng tác mới, chưa được sử dụng, chưa được công bố hoặc được công bố từ thời điểm phát động cuộc thi nhưng chưa tham gia bất kỳ cuộc thi nào trong và ngoài nước

- Tác giả phải chịu trách nhiệm về mặt pháp lý đối với tác phẩm của mình, đảm bảo không có tranh chấp bản quyền. Nếu tác phẩm được trao giải vi phạm pháp luật bản quyền, Ban Tổ chức, Hội đồng giảm khảo sẽ xem xét thu hồi giải thưởng và thông báo rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng.

- Ban Tổ chức không trả lại sản phẩm tham dự cuộc thi trong bất kỳ trường hợp nào và được toàn quyền sử dụng tác phẩm đoạt giải để phục vụ các hoạt động tuyên truyền Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XI.

7. Cơ cấu giải thưởng:

- 01 giải nhất: Được chọn làm biểu trưng (lô gô) chính thức của Đại hội; chứng nhận của Ban Tổ chức kèm theo tiền thưởng: 20.000.000đ. Tác giả được mời làm đại biểu khách mời dự Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XI. Tác giả còn trong độ tuổi đoàn viên được mời tham gia hành trình Tuổi trẻ vì biển đảo quê hương năm 2018 (nếu điều kiện cho phép).

- 01 giải nhì: Chứng nhận của Ban Tổ chức kèm theo tiền thưởng: 5.000.000đ.

- 01 giải ba: Chứng nhận của Ban Tổ chức kèm theo tiền thưởng: 2.000.000đ.

Trong trường hợp cần thiết, Ban Tổ chức Cuộc thi xem xét quyết định điều chỉnh cơ cấu giải thưởng cho phù hợp.

BAN TỔ CHỨC

Cập nhật ngày
 
«Bắt đầuLùi12345678910Tiếp theoCuối»