Chào mừng các bạn đến với Website Tỉnh đoàn Bến Tre

Nhiệt liệt chào mừng Đại hội Đoàn các cấp tiến tới Đại hội đại biểu Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tỉnh Bến Tre lần thứ X, nhiệm kỳ 2017-2022               Tuổi trẻ Bến Tre phấn đấu rèn luyện trở thành người thanh niên Đồng Khởi mới "Yêu nước - Bản lĩnh - Hiếu thảo - Tình nguyện"

Tuổi trẻ Bến Tre hội nhập quốc tế



Tuổi trẻ Bến Tre hội nhập quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam: thành tựu và kinh nghiệm PDF. In bài viết Email
Tác giả: Theo http://lyluanchinhtri.vn   

(LLCT) - Trong thời kỳ đổi mới, nhờ có đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước về hội nhập quốc tế, Việt Nam đã tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển đất nước; hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới và đã thu được nhiều thành tựu quan trọng.

1. Đường lối, chủ trương của Đảng về hội nhập kinh tế quốc tế từng bước được hoàn thiện

Trong thời kỳ đổi mới, chủ trư­ơng của Đảng về hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng đ­ược bổ sung, hoàn thiện. Đại hội VI của Đảng đưa ra quan điểm muốn phát triển kinh tế phải tham gia vào phân công lao động quốc tế. Đến Đại hội VII, Đảng khẳng định: “mở rộng, đa dạng hoá và đa ph­ương hoá quan hệ kinh tế đối ngoại trên nguyên tắc giữ vững độc lập chủ quyền, bình đẳng, cùng có lợi”(1). Trung ­ương Đảng khóa VII đã cụ thể hóa quan điểm mở rộng quan hệ và tham gia các tổ chức, định chế tài chính, tiền tệ, kinh tế, thư­ơng mại khu vực và quốc tế. Tiếp đó, Đại hội VIII xác định đường lối “xây dựng nền kinh tế mở”, “đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới”. Đại hội IX đánh dấu mốc phát triển mới về hội nhập kinh tế quốc tế với chủ tr­ương “chủ động hội nhập kinh tế quốc tế” được cụ thể hóa bởi Nghị quyết 07-NQ/TW (27-11-2001) của Bộ Chính trị.

Trong tình hình mới, Đảng ta đặc biệt quan tâm việc bổ sung, làm rõ thêm quan điểm, chủ trư­ơng hội nhập kinh tế quốc tế. Tổng kết 20 năm đổi mới, Đại hội X đã nêu 5 bài học lớn, trong đó bài học thứ 3 là bài học về hội nhập kinh tế quốc tế và xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ. Hội nhập kinh tế quốc tế đư­ợc xác định là yêu cầu khách quan, do đó phải chủ động, có lộ trình với bước đi tích cực, vững chắc, không do dự chần chừ, như­ng cũng không nóng vội, giản đơn...

Đến Đại hội XI, Đảng chủ trương chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đẩy mạnh hoạt động kinh tế đối ngoại, hội nhập sâu hơn và đầy đủ hơn với các thể chế kinh tế toàn cầu, khu vực và song phư­ơng, lấy phục vụ lợi ích đất nước làm mục tiêu cao nhất. Nhìn chung, hội nhập kinh tế quốc tế trong bối cảnh nước ta hiện nay phải dựa trên cơ sở phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng XHCN, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường.

Đại hội XII của Đảng khẳng định: “Nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, tiếp tục đưa các mối quan hệ hợp tác đi vào chiều sâu, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đối ngoại đa phương, chủ động và tích cực đóng góp xây dựng, định hình các thể chế đa phương”(2). Để đưa hội nhập quốc tế đi vào chiều sâu, trên cơ sở quán triệt và thực hiện đúng các quan điểm về hội nhập quốc tế được nêu trong Văn kiện Đại hội, đối ngoại tập trung làm tốt các công việc:

Thứ nhất, thực hiện triệt để phương châm “triển khai đồng bộ” các định hướng đối ngoại được Đại hội XII của Đảng thông qua, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quá trình hội nhập quốc tế; nâng cao hiệu quả sự phối hợp giữa đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại nhân dân, giữa các ngành, các cấp, các địa phương.

Thứ hai, trên cơ sở bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc, đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ đối tác, nhất là các khuôn khổ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện, đảm bảo môi trường hòa bình, ổn định cho đất nước, thúc đẩy quan hệ chính trị, kinh tế, thương mại, đầu tư, khoa học, công nghệ, tạo thuận lợi cho phát triển đất nước và quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam.

Thứ ba, nâng cao hiệu quả hội nhập, thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế, theo đó cần tăng cường công tác phổ biến các cam kết quốc tế ta đã ký kết, đã nội luật hóa và các quy định trong quá trình triển khai; làm cho mỗi tổ chức, mỗi người dân hiểu rõ thách thức, cơ hội mà họ có được từ hội nhập quốc tế để tham gia một cách chủ động và tích cực; biến quá trình hội nhập từ các hoạt động chủ yếu do các cơ quan nhà nước tiến hành thành quá trình tham gia chủ động và tích cực của từng địa phương, tổ chức, doanh nghiệp, người dân.

Thứ tư, triển khai các định hướng lớn về hội nhập được nêu trong Văn kiện Đại hội, tập trung thực hiện Chiến lược tổng thể hội nhập quốc tế đến 2020, tầm nhìn 2030 và các đề án, kế hoạch triển khai Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị; khẩn trương hoàn thiện, nâng cao năng lực các thể chế hội nhập; đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực phục vụ hội nhập; phấn đấu đến 2020, mức độ hội nhập trên các lĩnh vực của nước ta ở mức độ cao trong ASEAN(3).

2. Những thành tựu cơ bản

Thứ nhất, phá được thế bao vây cấm vận; tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, thuận lợi cho phát triển đất nước. Việt Nam đã bình thường hóa quan hệ với tất cả các nước lớn và hầu hết các nước trên thế giới; gia nhập nhiều tổ chức quốc tế và khu vực quan trọng; trở thành thành viên có vai trò quan trọng trong ASEAN; đồng thời lần đầu tiên đảm nhiệm thành công vai trò ủy viên không thường trực Hội đồng bảo an Liên Hợp quốc (nhiệm kỳ 2008-2009). Do vậy, vị trí của nước ta trong chính sách khu vực của các đối tác cũng ngày càng được coi trọng hơn.

Thứ hai, củng cố và tăng cường quan hệ với các nước láng giềng; kiên quyết và kiên trì đấu tranh giữ vững chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Quan hệ đoàn kết hữu nghị đặc biệt giữa Việt Nam và Lào tiếp tục được củng cố, mở rộng, đi vào chiều sâu từ đó đạt được những bước phát triển tốt đẹp, đặc biệt là trong hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư. Quan hệ Việt Nam - Campuchia tiếp tục được củng cố, phát triển về mọi mặt. Hai bên đã nhất trí phương châm phát triển quan hệ đối ngoại trong thời kỳ mới theo hướng “láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài”. Với Trung Quốc, quan hệ hai nước có nhiều bước phát triển kể từ khi bình thường hóa; hợp tác kinh tế - thương mại phát triển nhanh chóng; hai bên đã phân giới cắm mốc xong trên thực địa toàn tuyến biên giới; phê chuẩn Hiệp định phân định và Hiệp định hợp tác nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ; thoả thuận thiết lập quan hệ “Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện” theo tinh thần 16 chữ và bốn tốt. Trong bối cảnh tình hình trên Biển Đông có nhiều diễn biến phức tạp, có lúc căng thẳng, chúng ta đã xử lý thỏa đáng các vấn đề nảy sinh, kiên trì và kiên quyết bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của mình, đồng thời giương cao ngọn cờ hoà bình và công lý, chủ trương thông qua các biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên Hợp quốc về Luật biển; kiên trì tôn trọng thỏa thuận giữa ASEAN và Trung Quốc về cách ứng xử trên Biển Đông (DOC), nỗ lực cùng các nước liên quan xây dựng một Bộ quy tắc ứng xử (COC) thực sự có hiệu lực trong việc quản lý tranh chấp và ngăn ngừa xung đột ở Biển Đông.

Thứ ba, bình thường hóa, thiết lập quan hệ ổn định, lâu dài với các nước, nhất là các nước lớn, tiếp tục đưa các mối quan hệ đi vào chiều sâu. Việt Nam đã có những bước phát triển quan trọng trong quan hệ với Hoa Kỳ kể từ sau bình thường hóa quan hệ (1995); cụ thể, quan hệ kinh tế phát triển nhanh; quan hệ an ninh, quân sự từng bước được thiết lập; hợp tác về khoa học kỹ thuật, giáo dục, y tế, lao động, văn hóa v.v.. không ngừng được mở rộng. Đồng thời, Việt Nam cũng ưu tiên phát triển quan hệ với các nước, các trung tâm chính trị - kinh tế lớn của thế giới theo các khuôn khổ phù hợp.

Thứ tư, từng bước chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới và khu vực.

Đến năm 2015, Việt Nam có quan hệ ngoại giao với 185/193 nước thành viên Liên Hợp quốc, thiết lập quan hệ “đối tác chiến lược” với 13 nước, quan hệ “đối tác chiến lược” trên một số lĩnh vực với 2 nước, quan hệ “đối tác toàn diện” với 11 nước. Trong các đối tác trên có 5 nước Ủy viên thường trực Hội đồng bảo an Liên Hợp quốc.

Việt Nam đã gia nhập hầu hết các tổ chức khu vực và quốc tế quan trọng, mở rộng hợp tác về chính trị, quốc phòng, an ninh và các lĩnh vực khác; từng bước khẳng định được hình ảnh và vị thế của một quốc gia tích cực và có trách nhiệm; tăng cường sự hiểu biết của cộng đồng quốc tế về văn hoá, con người và đất nước Việt Nam; đóng góp tích cực cho duy trì, bảo vệ môi trường hòa bình chung thông qua các cơ chế, diễn đàn an ninh quốc tế và khu vực, thông qua xây dựng các chuẩn mực, quy tắc ứng xử chung quốc tế và khu vực; được bầu vào Hội đồng Nhân quyền của Liên Hợp quốc nhiệm kỳ 2014-2016 với số phiếu cao; là thành viên Ủy ban Di sản thế giới - UNESCO.

Sau 30 năm đổi mới, hội nhập kinh tế quốc tế và 10 năm gia nhập WTO (2006), Việt Nam đã tận dụng được cơ hội và thu được nhiều thành tựu quan trọng.

Thị trường xuất nhập khẩu được mở rộng, số lượng đối tác thương mại gia tăng, tranh thủ được khối lượng lớn vốn đầu tư, tri thức, công nghệ mới và các nguồn lực quan trọng khác, đóng góp tích cực vào tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại. Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu có sự chuyển dịch mạnh theo hướng giảm tỷ lệ nông sản thô, nguyên nhiên liệu và tăng tỷ lệ các mặt hàng công nghiệp và chế biến; phát triển được nhiều ngành, sản phẩm có năng lực cạnh tranh, phục vụ tốt yêu cầu phát triển kinh tế và cải thiện vị thế của Việt Nam trên bản đồ kinh tế của khu vực và thế giới.

Tạo được những chuyển biến lớn về tư duy của cả chính quyền, doanh nghiệp và xã hội, tạo động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp đổi mới; hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hệ thống luật pháp; điều chỉnh chính sách theo các chuẩn mực quốc tế, từ đó nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Trong 5 năm, Việt Nam đã sửa đổi và xây dựng 86 luật để tạo điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Với sự ra đời Luật đầu tư nước ngoài, và sự điều chỉnh của các điều luật, cơ chế, chính sách khác, Việt Nam đã và đang tạo lập môi trường pháp lý ngày càng thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước.

Đại hội XII của Đảng đánh giá: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài phục hồi, vốn đăng ký giai đoạn 2011-2015 đạt 99 tỷ USD, thực hiện đạt 60,5 tỷ USD. Vốn ODA ký kết khoảng 27,8 tỷ USD, giải ngân khoảng 22,3 tỷ USD, đóng góp quan trọng vào kết cấu hạ tầng”(4).

Tiếp thu công nghệ mới và đào tạo nguồn nhân lực. Hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo cơ hội và động lực cho các doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận, áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ mới nhất. Nhiều công nghệ hiện đại, dây chuyền sản xuất tiên tiến được áp dụng, tạo ra bước phát triển mới trong các ngành sản xuất. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế cũng góp phần đào tạo cán bộ trên nhiều lĩnh vực. Hàng vạn lao động trực tiếp, cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý,… được đào tạo và trưởng thành có thể tiếp cận và chuyển giao thành công các công nghệ hiện đại của nước ngoài đầu tư vào Việt Nam.

Từng bước đưa doanh nghiệp và nền kinh tế bước vào môi trường cạnh tranh. Hội nhập kinh tế quốc tế buộc các doanh nghiệp Việt Nam phải cạnh tranh ở cả thị trường trong nước và nước ngoài, do đó các doanh nghiệp phải không ngừng đổi mới công nghệ, đổi mới quản lý, nâng cao năng suất và chất lượng, xây dựng thương hiệu để không ngừng phát triển. Hiện nay nhiều mặt hàng của nước ta được đánh giá có sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Một số doanh nghiệp đã đầu tư hoạt động ở nước ngoài như: Viettel, Petro Vietnam, Hoàng Anh Gia Lai, cà phê Trung Nguyên, Vinamilk,… Thị trường chủ yếu là Lào, Nga, Singapore, Campuchia, Anh, Ấn Độ, Đài Loan,…

Duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao và tương đối ổn định, góp phần cải thiện đời sống của nhân dân. Năm 1990, thu nhập bình quân đầu người nước ta ở mức dưới 100 USD, năm 2005 đạt 640 USD, năm 2010 đạt 1168 USD. Tuy nhiên đến Đại hội XII của Đảng, “Tốc độ tăng Tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân 5 năm đạt trên 5,9%/năm. Quy mô và tiềm lực của nền kinh tế tiếp tục tăng lên; GDP năm 2015 đạt 193,4 tỷ USD, bình quân đầu người khoảng 2.109 USD(5).

Góp phần củng cố hệ thống chính trị - an ninh - quốc phòng Việt Nam. Hội nhập kinh tế quốc tế đã góp củng cố hệ thống chính trị, nâng cao uy tín, vai trò của Đảng và Nhà nước, làm cho vị thế và vai trò quốc tế của Việt Nam được tăng cường. Mặt khác hội nhập kinh tế quốc tế tạo nền tảng để bảo đảm an ninh, quốc phòng, tạo điều kiện tốt hơn để thực hiện các chương trình xã hội như xóa đói giảm nghèo, phát triển vùng sâu vùng xa.

Đánh giá những thành tựu trong hội nhập quốc tế những năm 2010-2015, Văn kiện Đại hội XII của Đảng khẳng định: “Hội nhập quốc tế được đẩy mạnh, góp phần quan trọng vào việc tăng cường nguồn lực cho phát triển, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Trên tinh thần đó, Đại hội XII của Đảng xác định: “Nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, chủ động hội nhập quốc tế, giữ vững môi trường hòa bình và tạo điều kiện thuận lợi để phát triển đất nước”(6).

3. Một số hạn chế trong hội nhập kinh tế quốc tế

Chưa xác lập được một cách thật sự bền vững môi trường thuận lợi cho phát triển đất nước. Quan hệ với các đối tác, nhất là các đối tác quan trọng chưa ổn định, còn tồn tại nhiều trở ngại trong phát triển quan hệ giữa nước ta với các nước đối tác lớn.

Hiệu quả hoạt động đối ngoại trong một số trường hợp chưa được như mong muốn; việc triển khai thực hiện các kết quả, các thỏa thuận chưa kịp thời; sự phối hợp giữa các cấp, các ngành còn chưa nhịp nhàng và đồng bộ.

Đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước về hội nhập kinh tế quốc tế chưa được các cấp, các ngành quán triệt đầy đủ, chậm cụ thể hóa và thế chế hóa; các đơn vị chưa nhận thức rõ, chủ động tận dụng các cơ hội, cũng như chưa thấy được thách thức mới nảy sinh để chủ động ứng phó.

Hội nhập kinh tế quốc tế chưa gắn kết chặt chẽ với yêu cầu nâng cao hiệu quả, phát triển bền vững, bảo vệ an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; chưa được tiến hành đồng bộ với quá trình gia tăng liên kết giữa các vùng, miền trong cả nước. Cơ chế chỉ đạo, điều hành, giám sát và phối hợp quá trình hội nhập, từ Trung ương đến địa phương, giữa các ban, ngành còn nhiều bất cập.

Hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh, văn hóa, xã hội và một số lĩnh vực khác chưa đi vào chiều sâu, chưa gắn kết và tạo tác động tích cực đối với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế; trong nhiều trường hợp còn bị động; khuynh hướng tiếp nhận trợ giúp quốc tế còn phổ biến.

4. Một số kinh nghiệm

Từ thực tiễn triển khai đường lối và chính sách đối ngoại, hội nhập quốc tế của Đảng thời kỳ đổi mới, có thể đúc rút một số kinh nghiệm:

Một là, cần nhìn nhận thế giới một cách khách quan, biện chứng. Cần có nhận thức khoa học và tư duy thay đổi linh hoạt về thế giới để có những chiến lược, sách lược phù hợp nhất với lợi ích quốc gia, dân tộc. Trong thời kỳ đổi mới, Đảng đã vận dụng rất thành công bài học này, và trong bối cảnh môi trường quốc tế diễn biến ngày càng phức tạp hiện nay, đây là bài học cần hết sức lưu ý, chú trọng.

Hai là, gắn dân tộc với quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, để lấy yếu thắng mạnh, lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ thắng lớn là đặc trưng của đối ngoại nước ta nói chung và đối ngoại thời kỳ đổi mới nói riêng.

Ba là, huy động và củng cố sức mạnh vật chất gắn với huy động và phát huy sức mạnh tinh thần; kết hợp sức mạnh tự thân với sự đồng tình, ủng hộ của bạn bè quốc tế; đặc biệt chú trọng đến sự đồng thuận, thống nhất trong cả quá trình, từ điều hành cho tới triển khai các hoạt động đối ngoại

Bốn là, kiên định về nguyên tắc, linh hoạt về sách lược. Kiên trì nguyên tắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ đất nước, và xây dựng đất nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh”. Đồng thời, linh hoạt, mềm dẻo nhưng kiên quyết trong việc bảo đảm những nguyên tắc bất di bất dịch ấy.

Năm là, nắm vững thời cơ, giành thắng lợi từng bước. Việt Nam đã từng bước phá thế bao vây, cấm vận, bình thường hóa quan hệ với các nước; tiến tới đa dạng hóa, đa phương hóa nhằm mở rộng quan hệ đối ngoại; đưa các mối quan hệ đi vào chiều sâu, thiết lập các khuôn khổ hợp tác bền vững. Trong hội nhập, khởi đầu bằng việc gia nhập ASEAN, Việt Nam đã gia nhập các tổ chức quốc tế lớn hơn như ASEM (1996), APEC (1998), và WTO (2006)... Từ hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã từng bước mở rộng hội nhập trong các lĩnh vực khác, từ chính trị, quốc phòng, an ninh đến các lĩnh vực văn hóa, xã hội, khoa học, công nghệ, giáo dục, đào tạo.

________________

(1) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991, tr.119.

(2), (4), (5), (6) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, tr. 153-154, 232, 225,313.

(3) Xem: TTXVN ngày 23-1-2016

PGS,TS Vũ Quang Vinh

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

ThS Nguyễn Thị Ngọc Tuyết Phương

Trường Chính trị tỉnh Hậu Giang

 
Hội nhập quốc tế: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn PDF. In bài viết Email
Tác giả: BBT tổng hợp   

Bài viết của TS. Phạm Quốc Trụ, Học viện Ngoại giao đề cập một số khía cạnh về lý luận và thực tiễn của khái niệm hội nhập quốc tế, tập trung vào vấn đề định nghĩa và xác định bản chất, nội hàm, các hình thức và tính chất của hội nhập quốc tế; phân tích tính tất yếu và hệ lụy của hội nhập quốc tế như là một xu thế lớn của thế giới hiện đại.

Hội nhập quốc tế là một quá trình phát triển tất yếu, do bản chất xã hội của lao động và quan hệ giữa con người.  Sự ra đời và phát triển của kinh tế thị trường cũng là động lực hàng đầu thúc đẩy quá trình hội nhập. Hội nhập diễn ra dưới nhiều hình thức, cấp độ và trên nhiều lĩnh vực khác nhau, theo tiến trình từ thấp đến cao. Hội nhập đã trở thành một xu thế lớn của thế giới hiện đại, tác động mạnh mẽ đến quan hệ quốc tế và đời sống của từng quốc gia. Ngày nay, hội nhập quốc tế là lựa chọn chính sách của hầu hết các quốc gia để phát triển.

Những năm gần đây, hội nhập quốc tế đã trở thành ngôn từ khá thân quen với hầu hết người Việt Nam. Trong công sở, nhà trường, ở quán nước trên hè phố, thậm chí cả ở thôn quê, người ta đều sử dụng nó một cách rất thông dụng. Tuy vậy, nhưng không phải ai cũng thực sự hiểu khái niệm này; đặc biệt, hiểu nó một cách đầy đủ và ngọn nghành thì chẳng có mấy người. Giới học thuật và những nhà hoạch định chính sách cũng còn hiểu rất khác nhau và vẫn tiếp tục tranh luận về nhiều khía cạnh của hội nhập quốc tế. Trong bối cảnh nước ta đang “tích cực, chủ động hội nhập quốc tế” theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI vừa qua, việc xác định đúng ý nghĩa, bản chất, nội hàm, xu hướng vận động cũng như hệ lụy của hội nhập quốc tế là rất cần thiết và có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng chiến lược, chính sách và các biện pháp cụ thể của nước ta trong quá trình hội nhập.

Để đóng góp vào cuộc thảo luận nói trên, bài viết này đề cập một số khía cạnh về lý luận và thực tiễn của khái niệm hội nhập quốc tế, tập trung vào vấn đề định nghĩa và xác định bản chất, nội hàm, các hình thức và tính chất của hội nhập quốc tế; phân tích tính tất yếu và hệ lụy của hội nhập quốc tế như là một xu thế lớn của thế giới hiện đại.

1. Định nghĩa khái niệm hội nhập quốc tế

Thuật ngữ “hội nhập quốc” tế trong tiếng Việt có nguồn gốc dịch từ tiếng nước ngoài (tiếng Anh là “international integration”, tiếng Pháp là “intégration internationale”). Đây là một khái niệm được sử dụng chủ yếu trong các lĩnh vực chính trị học quốc tế và kinh tế quốc tế, ra đời từ khoảng giữa thế kỷ trước ở châu Âu, trong bối cảnh những người theo trường phái thể chế chủ trương thúc đẩy sự hợp tác và liên kết giữa các cựu thù (Đức-Pháp) nhằm tránh nguy cơ tái diễn chiến tranh thế giới thông qua việc xây dựng Cộng đồng châu Âu.

Trên thực tế cho đến nay, có nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau về khái niệm “hội nhập quốc tế”. Tựu chung, có ba cách tiếp cận chủ yếu sau:

Cách tiếp cận thứ nhất, thuộc về trường phái theo chủ nghĩa liên bang, cho rằng hội nhập (integration) là một sản phẩm cuối cùng hơn là một quá trình. Sản phẩm đó là sự hình thành một Nhà nước liên bang kiểu như Hoa Kỳ hay Thụy Sỹ. Để đánh giá sự liên kết, những người theo trường phái này quan tâm chủ yếu tới các khía cạnh luật định và thể chế[1].

Cách tiếp cận thứ hai, với Karl W. Deutsch[2] là trụ cột, xem hội nhập trước hết là sự liên kết các quốc gia thông qua phát triển các luồng giao lưu như thương mại, đầu tư, thư tín, thông tin, du lịch, di trú, văn hóa… từ đó hình thành dần các cộng đồng an ninh (security community). Theo Deutsch, có hai loại cộng đồng an ninh: loại cộng đồng an ninh hợp nhất như kiểu Hoa Kỳ, và loại cộng đồng an ninh đa nguyên như kiểu Tây Âu. Như vậy, cách tiếp cận thứ hai này xem xét hội nhập vừa là một quá trình vừa là một sản phẩm cuối cùng.

Cách tiếp cận thứ ba xem xét hội nhập dưới góc độ là hiện tượng/hành vi các nước mở rộng và làm sâu sắc hóa quan hệ hợp tác với nhau trên cơ sở phân công lao động quốc tế có chủ đích, dựa vào lợi thế của mỗi nước và mục tiêu theo đuổi.

Cách tiếp cận thứ nhất có nhiều hạn chế vì nó không đặt hiện tượng hội nhập trong quá trình phát triển mà chỉ nhìn nhận hiện tượng này (chủ yếu về khía cạnh luật định và thể chế) trong trạng thái tĩnh cuối cùng gắn với mô hình Nhà nước liên bang. Cách tiếp cận này khó áp dụng để phân tích và giải thích thực tiễn của quá trình hội nhập diễn ra với nhiều hình thức và mức độ khác nhau như hiện nay trên thế giới. Không phải bất cứ sự hội nhập nào cũng dẫn đến một Nhà nước liên bang. Cách tiếp cận thứ hai có điểm mạnh là nhìn nhận hiện tượng hội nhập vừa trong quá trình tiến triển vừa trong trạng thái tĩnh cuối cùng, đồng thời đưa ra được những nội dung khá cụ thể và sát thực tiễn của quá trình hội nhập, góp phần phân tích và giải thích nhiều vấn đề của hiện tượng này. Cách tiếp cận thứ ba tập trung vào hành vi của hiện tượng, không quan tâm xem xét góc độ thể chế cũng như kết quả cuối cùng của hội nhập, do vậy, thiếu tính toàn diện và hạn chế trong khả năng giải thích bản chất của quá trình hội nhập.

Ở Việt Nam, thuật ngữ ‘hội nhập kinh tế quốc tế” bắt đầu được sử dụng từ khoảng giữa thập niên 1990 cùng với quá trình Việt Nam gia nhập ASEAN, tham gia Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và các thể chế kinh tế quốc tế khác. Những năm gần đây, cụm từ “hội nhập quốc tế” (thậm chí nói ngắn gọn là “hội nhập”) được sử dụng ngày càng phổ biến hơn và với hàm nghĩa rộng hơn hội nhập kinh tế quốc tế. Có một thực tiễn đáng lưu ý là trước khi thuật ngữ “hội nhập kinh tế quốc tế” được đưa vào sử dụng, trong tiếng Việt đã xuất hiện các cụm từ “liên kết kinh tế quốc tếnhất thể hóa kinh tế quốc tế”. Cả ba thuật ngữ này thực ra được sử dụng để chỉ cùng một khái niệm mà tiếng Anh gọi là “international economic integration”. Sự khác biệt giữa chúng chủ yếu là cách dùng với hàm ý chính trị và lịch sử khác nhau. Thuật ngữ “nhất thể hóa kinh tế quốc tế được sử dụng chủ yếu trong bối cảnh hợp tác giữa các nước xã hội chủ nghĩa trong khuôn khổ Hội đồng Tương trợ kinh tế (SEV) những năm 1970-1980.

Thuật ngữ “liên kết kinh tế quốc tế được sử dụng khá nhiều khi nói về hiện tượng phát triển các quan hệ kinh tế trên cơ sở tự do hóa mậu dịch giữa các nước không phải là xã hội chủ nghĩa trong những thập niên sau Chiến tranh thế giới II, đặc biệt là trong khuôn khổ các tổ chức kinh tế khu vực như Cộng đồng Kinh tế châu Âu (EC), Liên minh châu Âu (EU), Hiệp hội Mậu dịch tự do châu Âu (EFTA), Thị trường chung Trung Mỹ (CACM), Cộng đồng Caribê và Thị trường chung (CARICOM), Khu vực Mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA), v.v... Trong thực tiễn sử dụng ở Việt Nam hiện nay, các thuật ngữ “liên kết quốc tếhội nhập quốc tế có thể thay thế nhau và hầu như không có sự khác biệt về ý nghĩa.

Mặc dầu vậy, cho đến nay vẫn không có một định nghĩa nào về khái niệm “hội nhập quốc tế” giành được sự nhất trí hoàn toàn trong giới học thuật và cả giới làm chính sách ở Việt Nam. Từ các định nghĩa khác nhau nổi lên hai cách hiểu chính. Thứ nhất, cách hiểu hẹp coi “hội nhập quốc tế” là sự tham gia vào các tổ chức quốc tế và khu vực. Thứ hai, cách hiểu rộng, coi “hội nhập quốc tế” là sự mở cửa và tham gia vào mọi mặt của đời sống quốc tế, đối lập với tình trạng đóng cửa, cô lập hoặc ít giao lưu quốc tế. Với tư duy theo cách này, không ít người thậm chí đã đánh đồng hội nhập với hợp tác quốc tế. Cả hai cách hiểu trên về khái niệm “hội nhập quốc tế” đều không đầy đủ và thiếu chính xác.

Từ lý luận và thực tiễn nêu trên, chúng ta cần xác định một cách tiếp cận phù hợp đối với khái niệm “hội nhập quốc tế” để làm nền tảng xây dựng chiến lược hội nhập quốc tế của Việt Nam trong giai đoạn mới. Chúng tôi cho rằng cách tiếp cận phù hợp nhất là xem xét hội nhập như là một quá trình xã hội có nội hàm toàn diện và thường xuyên vận động hướng tới mục tiêu nhất định. Theo đó, hội nhập quốc tế được hiểu như là quá trình các nước tiến hành các hoạt động tăng cường sự gắn kết họ với nhau dựa trên sự chia sẻ về lợi ích, mục tiêu, giá trị, nguồn lực, quyền lực (thẩm quyền định đoạt chính sách) và tuân thủ các luật chơi chung trong khuôn khổ các định chế hoặc tổ chức quốc tế. Như vậy, khác với hợp tác quốc tế (hành vi các chủ thể quốc tế đáp ứng lợi ích hay nguyện vọng của nhau, không chống đối nhau), hội nhập quốc tế vượt lên trên sự hợp tác quốc tế thông thường: nó đòi hỏi sự chia sẻ và tính kỷ luật cao của các chủ thể tham gia. Nhìn ở góc độ thể chế, quá trình hội nhập hình thành nên và củng cố các định chế/tổ chức quốc tế, thậm chí là các chủ thế mới của quan hệ quốc tế. Những chủ thể quốc tế mới này có thể dưới dạng: (i) hoặc là một tổ chức liên chính phủ (các thành viên vẫn giữ chủ quyền quốc gia trong việc định đoạt chính sách, chẳng hạn như tổ chức Liên hiệp quốc, ASEAN…), (ii) hoặc là một tổ chức siêu quốc gia (các thành viên trao toàn bộ chủ quyền quốc gia cho một cơ cấu siêu quốc gia, hình thái này có thể giống như mô hình nhà nước liên bang, chẳng hạn như Hoa Kỳ, Canada…), (iii) hoặc là một tổ chức lai ghép giữa hai hình thái trên (các thành viên trao một phần chủ quyền quốc gia cho một cơ cấu siêu quốc gia và vẫn giữ một phần chủ quyền cho riêng mình, chẳng hạn như trường hợp EU hiện nay).

Chủ thể của hội nhập quốc tế trước hết là các quốc gia, chủ thể chính của quan hệ quốc tế có đủ thẩm quyền và năng lực đàm phán, ký kết và thực hiện các cam kết quốc tế. Bên cạnh chủ thể chính này, các chủ thể khác cùng hợp thành lực lượng tổng hợp tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế.

2. Nội hàm của hội nhập quốc tế

Hội nhập quốc tế có thể diễn ra trên từng lĩnh vực của đời sống xã hội (kinh tế, chính trị, an ninh-quốc phòng, văn hóa, giáo dục, xã hội, v.v.), nhưng cũng có thể đồng thời diễn ra trên nhiều lĩnh vực với tính chất (tức là mức độ gắn kết), phạm vi (gồm địa lý, lĩnh vực/ngành) và hình thức (song phương, đa phương, khu vực, liên khu vực, toàn cầu) rất khác nhau.

a) Hội nhập kinh tế quốc tế

Đây là quá trình gắn kết các nền kinh tế của từng nước với kinh tế khu vực và thế giới thông qua các nỗ lực tự do hóa và mở cửa nền kinh tế theo những hình thức khác nhau, từ đơn phương[3] đến song phương[4], tiểu khu vực/vùng[5], khu vực[6], liên khu vực[7] và toàn cầu[8]. Hội nhập kinh tế có thể diễn ra theo nhiều mức độ. Theo một số nhà kinh tế, tiến trình hội nhập kinh tế được chia thành năm mô hình cơ bản từ thấp đến cao như sau[9]:

(i)            Thỏa thuận thương mại ưu đãi (PTA): Các nước thành viên dành cho nhau các ưu đãi thương mại trên cơ sở cắt giảm thuế quan, nhưng còn hạn chế về phạm vi (số lượng các mặt hàng đưa vào diện cắt giảm thuế quan) và mức độ cắt giảm. Hiệp định PTA của ASEAN (1977), Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ (2001), Hiệp định GATT (1947 và 1994) là các ví dụ cụ thể của mô hình liên kết kinh tế ở giai đoạn thấp nhất.

(ii)          Khu vực mậu dịch tự do (FTA): Các thành viên phải thực hiện việc cắt giảm và loại bỏ các hàng rào thuế quan và các hạn chế về định lượng (có thể bao gồm cả việc giảm và bỏ một số hàng rào phi thuế quan) trong thương mại hàng hóa nội khối, nhưng vẫn duy trì chính sách thuế quan độc lập đối với các nước ngoài khối. Ví dụ: Khu vực mậu dịch tự do Bắc Âu (EFTA), Khu vực mậu dịch tự do bắc Mỹ (NAFTA), Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA). Những năm gần đây, phần lớn các  hiệp định FTA mới có phạm vi lĩnh vực điều tiết rộng hơn nhiều. Ngoài lĩnh vực hàng hóa, các hiệp định này còn có những quy định tự do hóa đối với nhiều lĩnh vực khác như dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ, mua sắm chính phủ… Ví dụ: Hiệp định FTA giữa ASEAN với Úc-Niudilân (2009), Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình dương (TPP- đang đàm phán).

(iii)         Liên minh thuế quan (CU): Các thành viên ngoài việc cắt giảm và loại bỏ thuế quan trong thương mại nội khối còn thống nhất thực hiện chính sách thuế quan chung đối với các nước bên ngoài khối. Ví dụ: Nhóm ANDEAN và Liên minh thuế quan Nga-Bêlarút-Cadăcxtan.

(iv)         Thị trường chung (hay thị trường duy nhất): Ngoài việc loại bỏ thuế quan và hàng rào phi quan thuế trong thương mại nội khối và có chính sách thuế quan chung đối với ngoài khối, các thành viên còn phải xóa bỏ các hạn chế đối với việc lưu chuyển của các yếu tố sản xuất khác (vốn, lao động…) để tạo thành một nền sản xuất chung của cả khối. Ví dụ: Liên minh châu Âu đã trải qua giai đoạn xây dựng thị trường duy nhất (Thị trường chung châu Âu) trước khi trở thành một liên minh kinh tế.

(v)          Liên minh kinh tế-tiền tệ: Là mô hình hội nhập kinh tế ở giai đoạn cao nhất dựa trên cơ sở một thị trường chung/duy nhất cộng thêm với việc thực hiện chính sách kinh tế và tiền tệ chung (một đồng tiền chung, ngân hàng trung ương thống nhất của khối). Ví dụ: EU hiện nay.

Một nước có thể đồng thời tham gia vào nhiều tiến trình hội nhập với tính chất, phạm vi và hình thức khác nhau. Tuy nhiên, về cơ bản phải trải qua các bước hội nhập từ thấp đến cao, việc đốt cháy giai đoạn chỉ có thể diễn ra trong những điều kiện đặc thù nhất định mà thôi (chẳng hạn Cộng đồng Kinh tế châu Âu đã đồng thời thực hiện xây dựng khu vực mậu dịch tự do và liên minh thuế quan trong những thập niên 60-70). Hội nhập kinh tế là nền tảng hết sức quan trọng cho sự tồn tại bền vững của hội nhập trong các lĩnh vực khác, đặc biệt là hội nhập về chính trị và nhìn chung, được các nước ưu tiên thúc đẩy giống như một đòn bẩy cho hợp tác và phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa[10].

b) Hội nhập chính trị

Hội nhập về chính trị là quá trình các nước tham gia vào các cơ chế quyền lực tập thể (giữa hai hay nhiều nước) nhằm theo đuổi những mục tiêu nhất định và hành xử phù hợp với các luật chơi chung. Hội nhập chính trị thể hiện mức độ liên kết đặc biệt giữa các nước, trong đó họ chia sẻ với nhau về các giá trị cơ bản (tư tưởng chính trị, ý thức hệ), mục tiêu, lợi ích, nguồn lực và đặc biệt là quyền lực. Một quốc gia có thể tiến hành hội nhập chính trị quốc tế thông qua ký hiệp ước với một hay một số quốc gia khác trên cơ sở thiết lập các mối liên kết quyền lực giữa họ (hiệp ước liên minh hay đồng minh) hoặc tham gia vào các tổ chức chính trị khu vực (chẳng hạn như ASEAN, EU) hay một tổ chức có quy mô toàn cầu (chẳng hạn như Liên Hiệp quốc).

Ở giai đoạn thấp của hội nhập chính trị, liên kết giữa các thành viên còn hạn chế và các thành viên vẫn cơ bản giữ thẩm quyền định đoạt chính sách riêng. ASEAN hiện nay vẫn đang trong giai đoạn đầu quá trình hội nhập chính trị, nên vẫn còn tồn tại nhiều sự khác biệt và độ tin cậy giữa các thành viên còn hạn chế. Về mặt tổ chức quyền lực, ASEAN là một khuôn khổ liên chính phủ.  Hoàn tất xây dựng Cộng đồng ASEAN dựa trên 3 trụ cột (Cộng đồng Chính trị-An ninh, Cộng đồng Kinh tế và Cộng đồng Văn hóa-Xã hội) sẽ giúp tăng cường quá trình hội nhập chính trị trong ASEAN, tạo điều kiện để ASEAN bước tới một giai đoạn hội nhập cao hơn nữa.

Giai đoạn hội nhập chính trị cao đòi hỏi sự tương đồng về thể chế chính trị và độ tin cậy hoàn toàn của các thành viên. Về mặt tổ chức quyền lực, các thành viên chỉ giữ lại một số thẩm quyền nhất định ở cấp quốc gia và trao các quyền lực còn lại cho một cơ cấu siêu quốc gia. EU hiện nay là một mô hình hội nhập chính trị cao.

Thông thường hội nhập chính trị là bước đi sau cùng trên cơ sở các nước liên quan đã đạt đến trình độ hội nhập kinh tế và văn hóa-xã hội rất cao. Sự hình thành Liên bang Hoa Kỳ, Liên bang Canađa trước đây và EU hiện nay cơ bản theo phương thức này. Tuy nhiên, trong những bối cảnh nhất định, hội nhập trong lĩnh vực chính trị có thể đi trước một bước để mở đường thúc đẩy hội nhập trong các lĩnh vực khác. Trường hợp ASEAN thể hiện khá đặc biệt sự kết hợp nhiều tiến trình hội nhập. Trong suốt hơn 2 thập kỷ đầu tồn tại, ASEAN chủ yếu là một cơ chế hợp tác khu vực về chính trị-ngoại giao nhằm đối phó với những thách thức đối với an ninh quốc gia của các thành viên. Một số học giả nhìn nhận ASEAN như là một định chế/chế độ quốc tế (international regime) về chính trị-an ninh ở khu vực Đông Nam Á[11]. Nói một cách khác, đây là dạng thức ban đầu của hội nhập chính trị-an ninh. Sau giai đoạn khởi đầu chủ yếu bằng hội nhập sơ khai về chính trị-an ninh, từ cuối thập niên 1970 trở đi, ASEAN mới bắt đầu triển khai hợp tác về kinh tế và chỉ từ gần giữa thập niên 1990, ASEAN mới thực sự bắt đầu tiến trình hội nhập kinh tế. Hội nhập văn hóa-xã hội phải đợi đến khi ASEAN thông qua Hiến chương năm 2008 mới được triển khai.

c) Hội nhập an ninh-quốc phòng

Hội nhập về an ninh-quốc phòng là sự tham gia của quốc gia vào quá trình gắn kết họ với các nước khác trong mục tiêu duy trì hòa bình và an ninh. Điều này đòi hỏi các nước hội nhập phải tham gia vào các thỏa thuận song phương hay đa phương về an ninh-quốc phòng trên cơ sở các nguyên tắc chia sẻ và liên kết: mục tiêu chung, đối tượng/kẻ thù chung, tiến hành các hoạt động chung về đảm bảo an ninh-quốc phòng...

Có nhiều kiểu liên kết an ninh-quốc phòng khác nhau, trong đó nổi lên những hình thức chủ yếu được nhiều nước sử dụng như sau:

Hiệp ước phòng thủ chung: Đây là hình thức khá phổ biến trong thời kỳ Chiến tranh lạnh khi mà thế giới được cơ bản chia thành hai hệ thống (gọi là hệ thống hai cực) giữa một bên là các nước xã hội chủ nghĩa do Liên Xô lãnh đạo và bên kia là các nước tư bản chủ nghĩa do Mỹ đứng đầu. Hàng loạt tổ chức phòng thủ chung đã được hai phe lập ra để thực hiện các mục tiêu chính trị và an ninh-quốc phòng, chẳng hạn như Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO)[12], Tổ chức Hiệp ước Trung tâm (CENTO)[13], Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á (SEATO)[14], Hiệp ước Liên minh Úc-Niudilân-Mỹ (ANZUS)[15],  Tổ chức Hiệp ước  Vác-xô-vi[16]. Nguyên tắc của các tổ chức phòng thủ chung là: (i) các nước tham gia phải có chung kẻ thù bên ngoài, khi một nước nào đó tấn công một thành viên của khối thì nước đó được coi là kẻ thù của cả khối và tất cả các thành viên cùng hành động chống lại kẻ thù đó; (ii) các thành viên có chính sách phòng thủ chung; (iii) các thành viên cùng đóng góp lực lượng vũ trang tham gia vào lực lượng chung của khối đặt dưới một bộ chỉ huy chung.

Đây là phương thức liên kết quân sự rất cao, đòi hỏi các thành viên phải đồng về ý thức hệ và cùng chia sẻ cao về quan điểm, chính sách an ninh-quốc phòng, chiến lược quân sự và có trình độ phát triển kỹ thuật quân sự cũng như năng lực tác chiến không quá chênh lệch. Phương thức liên kết này cũng đòi hỏi các thành viên phải chấp nhận chịu sự hạn chế về chủ quyền quốc gia và trao một phần thẩm quyền quốc gia cho một cơ chế chung siêu quốc gia.

Hiệp ước liên minh quân sự song phương: Đây là hình thức cổ điển rất phổ biến trong lịch sử quan hệ quốc tế xưa và nay. Phần lớn, nếu như không nói là hầu hết, các nước đều có hiệp ước liên minh với một hoặc một số nước khác, trong đó có quy định về trợ giúp quân sự trong những tình huống cần thiết. Mỹ có hiệp ước liên minh quân sự song phương với Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan và Philipin. Việt Nam cũng đã có Hiệp ước liên minh với Liên Xô cũ, Lào và Cămpuchia.

Các dàn xếp an ninh tập thể: Đây là hình thức liên kết an ninh dựa trên nguyên tắc các thành viên cam kết không tấn công nhau, nếu có một thành viên vi phạm, sẽ dùng sức mạnh hợp tác của cả khối để ngăn chặn và giúp giải quyết xung đột. Hội quốc liên và sau này là Liên Hiệp quốc, Liên đoàn Ả-rập, Tổ chức thống nhất châu Mỹ (OAS), Tổ chức Thống nhất châu phi (AU), Cộng đồng chính trị-an ninh mà ASEAN đang xây dựng là những mô hình cụ thể của phương thức liên kết an ninh tập thể.

Các dàn xếp về an ninh hợp tác là phương thức liên kết an ninh-quốc phòng lỏng lẻo hơn cả, dựa trên nguyên tắc lấy hợp tác trên các lĩnh vực, từ dễ đến khó, với các hình thức đa dạng như đối thoại, xây dựng lòng tin, ngoại giao phòng ngừa… để xây dựng thói quen hợp tác và sự phụ thuộc, ràng buộc lẫn nhau, từ đó có thể hạn chế khả năng xảy ra xung đột giữa các thành viên. ASEAN và một loạt cơ chế khu vực liên quan như Hội nghị sau Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao (PMC), Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị Bộ trưởng quốc phòng ASEAN (ADMM), Hội nghị Bộ trưởng quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+), Hội nghị cấo cao Đông Á (EAS)… là những mô hình cụ thể về dạng thức liên kết này.

Nhìn chung, hội nhập trong lĩnh vực an ninh-quốc phòng là tiến trình  khó khăn hơn cả, vì nó liên quan trực tiếp tới những vấn đề nhạy cảm nhất- cốt lõi tồn tại của quốc gia, đó là hòa bình, độc lập và chủ quyền.

 

d) Hội nhập về văn hóa-xã hội

Hội nhập về văn hóa-xã hội là quá trình mở cửa, trao đổi văn hóa với các nước khác; chia sẻ các giá trị văn hóa, tinh thần với thế giới; tiếp thu các giá trị văn hóa tiến bộ của thế giới để bổ sung và làm giàu nền văn hóa dân tộc;  tham gia vào các tổ chức hợp tác và phát triển văn hóa-giáo dục và xã hội khu vực và hợp tác chặt chẽ với các nước thành viên hướng tới xây dựng một cộng đồng văn hóa-xã hội rộng lớn hơn trên phạm vi khu vực và toàn cầu (ví dụ, tham gia Cộng đồng văn hóa-xã hội ASEAN, UNESCO…); ký kết và thực hiện các hiệp định song phương về hợp tác-phát triển văn hóa-giáo dục-xã hội với các nước.

Hội nhập văn hóa-xã hội có ý nghĩa rất quan trọng trong việc làm sâu sắc quá trình hội nhập, thực sự gắn kết các nước với nhau bằng chất keo bền vững hơn cả. Quá trình này giúp các dân tộc ở các quốc gia khác nhau ngày càng gần gũi và chia sẻ với nhau  nhiều hơn về các giá trị, phương thức tư duy và hành động; tạo ra sự hài hòa và thống nhất ngày càng cao hơn giữa các chính sách xã hội của các nước thành viên; đồng thời tạo điều kiện để người dân mỗi nước được thụ hưởng tốt hơn các giá trị văn hóa của nhân loại, các phúc lợi xã hội đa dạng; đặc biệt, hình thành và củng cố tình cảm gắn bó thuộc về một cộng đồng chung rộng lớn hơn quốc gia của riêng mình (ý thức công dân khu vực/toàn cầu).

3. Hội nhập quốc tế là một xu thế tất yếu lớn của thời đại ngày nay

Hội nhập quốc tế là một quá trình tất yếu, do bản chất xã hội của lao động và quan hệ giữa con người. Các cá nhân muốn tồn tại và phát triển phải có quan hệ và liên kết với nhau tạo thành cộng đồng. Nhiều cộng đồng liên kết với nhau tạo thành xã hội và các quốc gia-dân tộc. Các quốc gia lại liên kết với nhau tạo thành những thực thể quốc tế lớn hơn và hình thành hệ thống thế giới.

Sự ra đời và phát triển của kinh tế thị trường đòi hỏi phải mở rộng các thị trường quốc gia, hình thành thị trường khu vực và quốc tế thống nhất. Đây là động lực chủ yếu thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng và hội nhập quốc tế nói chung.

Từ sau Chiến tranh thế giới II, đặc biệt là từ khi chấm dứt Chiến tranh lạnh, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất thế giới nhờ hàng loạt tiến bộ nhanh chóng về khoa học-công nghệ, xu thế hòa bình-hợp tác, nỗ lực tự do hóa-mở cửa của các nước đã thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là trong kinh tế, phát triển rất nhanh và trở thành một xu thế lớn của quan hệ quốc tế hiện đại. Quá trình này diễn ra trên nhiều cấp độ: song phương, đa phương, tiểu vùng, khu vực, liên khu vực và toàn cầu. Mức độ hội nhập cũng ngày một sâu sắc hơn, bao quát toàn diện hơn. Hầu hết mọi nước trên thế giới đã và đang tích cực tham gia vào quá trình này.

Trên cấp độ toàn cầu, ngay sau Chiến tranh thế giới II, Liên hiệp quốc và hàng loạt các tổ chức chuyên môn của Liên hiệp quốc, trong đó gồm nhiều thiết chế thuộc hệ thống Bretton Woods (đặc biệt là Quỹ Tiền tệ quốc tế và Ngân hàng Thế giới), ra đời với số lượng thành viên gia nhập ngày một nhiều hơn, bao quát hầu hết các nước trên thế giới. Đây là một tổ chức hợp tác toàn diện, bao quát hầu hết mọi lĩnh vực và có quy mô toàn cầu. Trong một số lĩnh vực, Liên hiệp quốc đã có sự phát triển vượt lên trên sự hợp tác thông thường và có thể nói đã đạt đến trình độ ban đầu của hội nhập (lĩnh vực chính trị-an ninh, lĩnh vực nhân quyền, lĩnh vực tài chính). Trong lĩnh vực thương mại, tiến trình hội nhập toàn cầu được thúc đẩy với việc ra đời của một định chế đa phương đặc biệt quan trọng, đó Hiệp định chung về Thương mại và Thuế quan (GATT), sau đó được nối tiếp bằng Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) kể từ năm 1995. Hiện nay, 153 quốc gia và vùng lãnh thổ đã tham gia với tư cách thành viên chính thức của Tổ chức này, khoảng 30 quốc gia khác đang trong quá trình đàm phán gia nhập. Trong hơn một thập kỷ qua, WTO đã phát triển mạnh mẽ hệ thống “luật chơi” về thương mại quốc tế, bao quát hầu hết các lĩnh vực của quan hệ kinh tế giữa các thành viên như hàng hóa, dich vụ, nông nghiệp, kiểm dịch động thực vật, dệt may, hàng rào kỹ thuật, đầu tư, sở hữu trí tuệ, chống bán phá giá, trợ cấp và các biện pháp đối kháng, các biện pháp tự vệ, xác định giá trị tính thuế hải quan, giám định hàng hóa, quy tắc xuất xứ, quy tắc và thủ tục giải quyết tranh chấp… Các quy định cơ bản của WTO trở thành nền tảng của tất cả các thỏa thuận kinh tế khu vực hay song phương trên thế giới hiện nay. Vòng đàm phán Đô-ha, bắt đầu từ hơn mười năm trước, đang tiếp tục mở rộng và củng cố các quy định của WTO theo hướng tự do hóa hơn nữa.

Ở cấp độ khu vực, quá trình hội nhập phát triển rất nhanh trong những thập niên 1960 và 1970, đặc biệt “nở rộ” từ thập niên 1990 trở lại đây. Hàng loạt tổ chức/thể chế khu vực đã ra đời ở khắp các châu lục. Hầu như không một khu vực nào trên thế giới hiện nay không có các tổ chức/thể chế khu vực của riêng mình. Các tổ chức/thể chế khu vực về chính trị-an ninh và đặc biệt là kinh tế, chiếm nhiều nhất. Chỉ riêng trong lĩnh vực kinh tế, tính đến giữa tháng 5/2011 có 489 hiệp định về mậu dịch khu vực (RTAs) giữa các thành viên của WTO đã được thông báo cho Ban Thư ký WTO, trong đó 90% là các thỏa thuận mậu dịch tự do (FTAs) và 10% là các liên minh thuế quan (CU)[17]. Bên cạnh đó, có tới hàng trăm RTAs đang trong quá trình đàm phán hoặc chuẩn bị đàm phán. Nhiều tổ chức/thể chế liên kết kinh tế liên khu vực được hình thành, ví dụ như APEC, ASEM, ASEAN với các đối tác ngoài khu vực chẳng hạn như Mỹ và EU (dưới dạng các PCA và FTA), EU với một số tổ chức/thể chế hoặc quốc gia ở các khu vực khác, v.v…

Bên cạnh các cấp độ toàn cầu và khu vực, quá trình hội nhập giữa các nước còn được điều tiết bởi các hiệp định liên kết song phương, dưới dạng hiệp ước liên minh (chính trị, an ninh, quốc phòng), hiệp định đối tác toàn diện, hiệp định đối tác chiến lược, hiệp định kinh tế-thương mại (BFTA, BCU…). Từ cuối thập niên 1990 trở lại đây, xu hướng ký kết các hiệp định đối tác chiến lược và hiệp định mậu dịch tự do (BFTA) phát triển đặc biệt mạnh mẽ. Hầu hết các nước đều đã ký hoặc đang trong quá trình đàm phán các BFTA. Thậm chí, có nước hiện đã ký hoặc đàm phán tới hàng chục hiệp định BFTA (Singapore, Thái Lan, Nhật, Úc…). Điều này được lý giải chủ yếu bởi bế tắc của vòng đàm phán Đôha và những ưu thế của BFTA so với các hiệp định đa phương (dễ đàm phán và nhanh đạt được hơn; việc thực hiện cũng thuận lợi hơn).

Về phạm vi lĩnh vực và mức độ hội nhập, xem xét các thỏa thuận liên kết khu vực và song phương trong thời gian gần đây, có thể thấy rất rõ rằng các lĩnh vực hội nhập ngày càng được mở rộng hơn. Bên cạnh xu hướng đẩy mạnh hội nhập kinh tế, các nước cũng quan tâm thúc đẩy hội nhập trong các lĩnh vực khác, đặc biệt là chính trị-an ninh và văn hóa-xã hội. Tiến trình hội nhập toàn diện trong EU đã đạt đến mức cao, biến tổ chức này trở thành một thực thể gần giống như một nhà nước liên bang. ASEAN cũng đang tiến hành mở rộng và làm sâu sắc tiến trình hội nhập khu vực một cách toàn diện hơn thông qua xây dựng Cộng đồng ASEAN dựa trên ba trụ cột Cộng đồng Chính trị-An ninh, Cộng đồng Kinh tế và Cộng đồng Văn hóa-Xã hội. Hàng loạt các hiệp định đối tác toàn diện hay đối tác chiến lược song phương được ký kết gần đây bao quát khá toàn diện các lĩnh vực hợp tác và liên kết giữa các bên. Nếu chỉ xét riêng về mặt kinh tế, thì các thỏa thuận gần đây, chẳng hạn như Hiệp định Mậu dịch tự do ASEAN-Úc-Niudilân, Hiệp định Mậu dịch tự do Mỹ-Singapore, Hiệp định Mậu dịch tự do Hàn Quốc-Singapore, Hiệp định Mậu dịch tự do Nhật-Singapore, chứa đựng hầu hết các lĩnh vực và do vậy vượt xa so với các hiệp định FTA truyền thống. Nhìn chung, các hiệp định FTA mới toàn diện hơn và bao hàm cả những lĩnh vực “nhạy cảm” (ví dụ như mua sắm chính phủ, cạnh tranh, lao động, môi trường, hàng rào kỹ thuật) thường không được đề cập trong hầu hết các hiệp định FTA ký trước đây. Bên cạnh đó, các hiệp định FTA mới đưa ra các quy định về tự do hóa triệt để hơn, thể hiện mức độ hội nhập cao hơn. Ví dụ, trong lĩnh vực hàng hóa, cắt giảm thuế quan mạnh hơn và sớm đưa về 0%, hạn chế tối đa số lượng các sản phẩm loại trừ.

Rõ ràng, hội nhập quốc tế đã trở thành một xu thế lớn và một đặc trưng quan trọng của thế giới hiện nay. Không ít người khẳng định rằng chúng ta đang sống trong thời đại toàn cầu hóa. Nói một cách khác, thời đại hội nhập toàn cầu. Xu thế này chi phối toàn bộ quan hệ quốc tế và làm thay đổi to lớn cấu trúc của hệ thống thế giới cũng như bản thân các chủ thể và mối quan hệ giữa chúng.

4. Lợi và bất lợi của hội nhập quốc tế

Khẳng định hội nhập quốc tế là một xu thế tất yếu lớn của thế giới  cũng đồng thời chỉ ra con đường phát triển không thể nào khác đối với các nước trong thời đại toàn cầu hóa là tham gia hội nhập quốc tế. Sự lựa chọn tất yếu này còn được quyết định bởi rất nhiều lợi ích mà hội nhập quốc tế tạo ra cho các nước. Dưới đây, xin nêu những lợi ích chủ yếu của hội nhập quốc tế mà các nước có thể tận dụng được:

Thứ nhất, quá trình hội nhập giúp mở rộng thị trường để thúc đẩy thương mại và các quan hệ kinh tế quốc tế khác, từ đó thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế-xã hội.

Thứ hai, hội nhập cũng tạo động lực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, từ đó nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, của các sản phẩm và doanh nghiệp; đồng thời, làm tăng khả năng thu hút đầu tư vào nền kinh tế.

Thứ ba, hội nhập giúp nâng cao trình độ của nguồn nhân lực và nền khoa học công nghệ quốc gia, nhờ hợp tác giáo dục-đào tạo và nghiên cứu khoa học với các nước và tiếp thu công nghệ mới thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài và chuyển giao công nghệ từ các nước tiên tiến.

Thứ tư, hội nhập làm tăng cơ hội cho các doanh nghiệp trong nước tiếp cận thị trường quốc tế, nguồn tín dụng và các đối tác quốc tế.

Thứ năm, hội nhập tạo cơ hội để các cá nhân được thụ hưởng các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ đa dạng về chủng loại, mẫu mã và chất lượng với giá cạnh tranh; được tiếp cận và giao lưu nhiều hơn với thế giới bên ngoài, từ đó có cơ hội phát triển và tìm kiếm việc làm cả ở trong lẫn ngoài nước.

Thứ sáu, hội nhập tạo điều kiện để các nhà hoạch định chính sách nắm bắt tốt hơn tình hình và xu thế phát triển của thế giới, từ đó có thể đề ra chính sách phát triển phù hợp cho đất nước và không bị lề hóa.

Thứ bảy, hội nhập giúp bổ sung những giá trị và tiến bộ của văn hóa, văn minh của thế giới, làm giàu văn hóa dân tộc và thúc đẩy tiến bộ xã hội.

Thứ tám, hội nhập tạo động lực và điều kiện để cải cách toàn diện hướng tới xây dựng một xã hội mở, dân chủ hơn, và một nhà nước pháp quyền.

Thứ chín, hội nhập tạo điều kiện để mỗi nước tìm cho mình một vị trí thích hợp trong trật tự quốc tế, giúp tăng cường uy tín và vị thế quốc tế, cũng như khả năng duy trì an ninh, hòa bình và ổn định để phát triển.

Thứ mười, hội nhập giúp duy trì hòa bình và ổn định khu vực và quốc tế để các nước tập trung cho phát triển; đồng thời mở ra khả năng phối hợp các nỗ lực và nguồn lực của các nước để giải quyết những vấn đề quan tâm chung của khu vực và thế giới .

Tuy nhiên, hội nhập không chỉ đưa lại những lợi ích, trái lại, nó cũng đặt các nước trước nhiều bất lợi và thách thức, trong đó đặc biệt là:

Một, hội nhập làm gia tăng cạnh tranh gay gắt khiến nhiều doanh nghiệp và ngành kinh tế gặp khó khăn, thậm chí là phá sản, từ đó gây nhiều hậu quả về mặt kinh tế-xã hội.

Hai, hội nhập làm tăng sự phụ thuộc của nền kinh tế quốc gia vào thị trường bên ngoài và, do vậy, khiến nền kinh tế dễ bị tổn thương trước những biến động của thị trường quốc tế.

Ba, hội nhập không phân phối công bằng lơi ích và rủi ro cho các nước và các nhóm khác nhau trong xã hội, do vậy có nguy cơ làm tăng khoảng cách giàu-nghèo.

Bốn, trong quá trình hội nhập, các nước đang phát triển phải đối mặt với nguy cơ chuyển dịch cơ cấu kinh tế tự nhiên bất lợi, do thiên hướng tập trung vào các ngàng sử dụng nhiều tài nguyên, nhiều sức lao động, nhưng có giá trị gia tăng thấp. Do vậy, họ dễ có thể trở thành bãi rác thải công nghiệp và công nghệ thấp, bị cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên và hủy hoại môi trường.

Năm, hội nhập có thể tạo ra một số thách thức đối với quyền lực Nhà nước (theo quan niện truyền thống về độc lập, chủ quyền) và phức tạp đối với việc duy trì an ninh và ổn định ở các nước đang phát triển.

Sáu, hội nhập có thể làm gia tăng nguy cơ bản sắc dân tộc và văn hóa truyền thống bị xói mòn trước sự “xâm lăng” của văn hóa nước ngoài.

Bảy, hội nhập có thể đặt các nước trước nguy cơ gia tăng của tình trạng khủng bố quốc tế, buôn lậu, tội phạm xuyên quốc gia, dịch bệnh, nhập cư bất hợp pháp…

Như vậy, hội nhập đồng thời đưa lại cả lợi ích lẫn bất lợi đối với các nước. Tuy nhiên, không phải cứ hội nhập là đương nhiên hưởng đầy đủ tất cả các lợi ích và gánh mọi bất lợi như đã nêu trên. Các lợi ích và bất lợi nhìn chung ở dạng tiềm năng và đối với mỗi nước một khác, do các nước không giống nhau về điều kiện, hoàn cảnh, trình độ phát triển… Việc khai thác được lợi ích đến đâu và hạn chế các bất lợi, thách thức thế nào phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó đặc biệt quan trọng là năng lực của mỗi nước, trước hết là chiến lược/chính sách, biện pháp hội nhập và việc tổ chức thực hiện. Thực tế, nhiều nước đã khai thác rất tốt các cơ hội và lợi ích của hội nhập để đạt được tăng trưởng và phát triển kinh tế-xã hội cao, ổn định trong nhiều năm liên tục, nhanh chóng vươn lên hàng các nước công nghiệp mới và tạo dựng được vị thế quốc tế đáng nể, đồng thời xử lý khá thành công các bất lợi và thách thức của quá trình hội nhập, đó là trường hợp Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Singapore, Trung Quốc, Malaixia, Mêhicô, Braxin… Một số nước tuy vẫn gặt hái được nhiều lợi ích từ hội nhập, song xử lý chưa tốt mặt trái của quá trình này, nên phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức lớn, có thể kể tới trường hợp Thái Lan, Phi-líp-pin, Inđônêxia, Việt Nam,  Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha… Mặc dù vậy, suy cho cùng lợi ích mà hầu hết các nước đã thu được trên thực tế từ quá trình hội nhập vẫn lớn hơn cái giá mà họ phải trả cho những tác động tiêu cực xét trên phương diện tăng trưởng và phát triển kinh tế. Điều này giải thích tại sao hội nhập quốc tế trở thành lựa chọn chính sách của hầu hết các nước trên thế giới hiện nay./

Tài liệu tham khảo:

Acharya  Amitav, “Regionalism and Regime Security in the Third World: Comparing the Origins of ASEAN and the GCC” trong Brian L. Job (ed.), The Insecurity Dilemma: National Security of Third World States, Boulder, Lynne Rienner, 1992.

Acharya  Amitav, “The Association of Southeast Asian Nations: Security Community or Defense Community?”, Pacific Affairs, vol. 64, no 2, summer 1991.

Balassa Bela, The Theory of Economic Integration, Richard D. Irwin Inc., Homewood, Illinois, 1961.

Bộ Ngoại giao, Việt Nam hội nhập kinh tế trong xu thế toàn cầu hóa: Vấn đề và giải pháp, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002.

Buzan Barry, “The Southeast Asian Security Complex”, Contemporary Southeast Asia, tập 10, số 1, tháng 7/1988.

Carl J. Friedrich, Trends of Federalism in Theory and Practice, New York, Praeger, 1968.

Couloumbis Theodore A.  & James H. Wolfe, Introduction to International Relations: Power & Justice, Englewood Cliffs, New Jersey, Prentice-Hall, 1986;

Deutsch Karl W. & all, Political Community and the North Atlantic Area, Princeton, N.J., Princeton University Press, 1957;

Deutsch Karl W. & all, France, Germany, and the Western Alliance: A Study of Elite Attitudes on European Integration and World Politics, New York, Scribner’s, 1967.

Jacob Philip E. & Toscano (ed.), The Integration of Political Communities, Philadelphia, Lippincott, 1964;

Học viện Ngoại giao, Lý luận quan hệ quôc tế, Hà Nội, 2008.

Phạm Quốc Trụ, Chủ nghĩa khu vực như là một chiến lược an ninh quốc gia: Chế độ an ninh hợp tác của ASEAN 1957-1996 ( tiếng Pháp), Luận văn tiến sỹ, Đại học Laval, Québec, (Canada), 1996.

Phạm Quốc Trụ, “Thực trạng hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam những năm qua và triển vọng những năm tới”, Tạp chí Nghiên cứu quốc tế số 1 (80) tháng 3/2010.

TS. Phạm Quốc Trụ, Học viện Ngoại giao

Cập nhật ngày
 
Tỉnh đoàn Bến Tre phối hợp tổ chức Global Vision (Hàn Quốc) tổ chức hoạt động quốc tế thanh niên tại xã Tân bình, huyện Mỏ Cày Bắc PDF. In bài viết Email
Tác giả: Huyện đoàn Mỏ Cày Bắc   
Thiết thực lập thành tích chào mừng Đại hội Đại biểu Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tỉnh Bến Tre lần thứ X, nhiệm kỳ 2017 – 2022, kỷ niệm 62 năm ngày truyền thống Hội LHTN Việt Nam (15/10/1956 – 15/10/2017), Từ ngày 18/9 – 22/9/2017, Ban Thường vụ Tỉnh đoàn Bến Tre, tổ chức Global Vision (Hàn Quốc) tại Việt …
Cập nhật ngày
 
Thanh niên Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế PDF. In bài viết Email
Tác giả: Th.s Phạm Thị Như Quỳnh - GV Khoa Dân Vận trường Chính trị Nghệ An   

Mở đầu buổi đối thoại trực tuyến với thanh niên, trí thức trẻ, sinh viên trong cả nước, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã nhắc lại câu nói của Bác Hồ kính yêu "nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn  là ở thanh niên" và nhấn mạnh, thanh niên có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong sự nghiệp cách mạng và tương lai của đất nước. Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn đặt nềm tin vào thanh niên, trao cho thanh niên trọng trách là "người chủ hiện tại và tương lai của nước nhà", đòi hỏi thanh niên phải phấn đấu vươn lên cùng dân tộc hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ cách mạng đặt ra.

Hiện nay đất nước ta đang trong giai đoạn đẩy mạnh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, quá trình đó đã, đang đưa lại cho đất nước ta nói chung và cho thanh niên nói riêng những thời cơ xen lẫn những thách thức lớn:

- Những thời cơ:

Thứ nhất, trên con đường hội nhập kinh tế quốc tế Việt Nam có nhiều cơ hội để mở rộng và tiếp cận thị trường hàng hóa, dịch vụ trên thế giới, có điều kiện để mở rộng thị trường xuất nhập khẩu ra ngoài biên giới quốc gia.

Thứ hai, đẩy mạnh quá trình hội nhập, đất nước ta có vị thế bình đẳng trên trường quốc tế, có điều kiện để đảm bảo lợi ích của đất nước, của dân tộc đồng thời thúc đẩy nhanh quá trình cải cách của đất nước có hiệu quả hơn.

Thứ ba, là thành viên của tổ chức WTO nên môi trường kinh doanh của chúng ta ngày càng được cải thiện.


- Bên cạnh những thuận lợi đó, Việt Nam đang đứng trước những thách thức lớn:


Thứ nhất, so với các nước trong khu vực và trên thế giới về trình độ phát triển nước ta đang có khoảng cách tụt hậu khá xa vì vậy còn phải chịu nhiều thiệt thòi trong quá trình cạnh tranh trên thị trường.


Thứ hai, cạnh tranh sẽ diễn ra gay gắt hơn, với nhiều đối thủ hơn. Sự cạnh tranh ở đây thể hiện ở chất lượng sản phẩm, ở chính sách quản lý, chiến lược phát huy nội lực và thu hút đầu tư nước ngoài.


Thứ ba, sự hội nhập sâu rộng dẫn đến sự phụ thuộc vào nhau giữa các nước tăng lên. Sự biến động của nền kinh tế các nước có thể tác động mạnh đến nước ta. Vì vậy, đòi hỏi chúng ta phải có năng lực dự báo, phân tích tình hình và có phản ứng chính xác để hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực tác động từ bên ngoài.


Đứng trước tình hình đó, với vị trí, vai trò là người chủ hiện tại và tương lai của nước nhà, thanh niên Việt Nam chiếm gần 30% dân số, là lực lượng sung mãn về thể lực, giàu khát vọng, hoài bão, có nhu cầu, có khả năng tiếp thu nhanh nhạy những thành tựu khoa học công nghệ, kỹ thuật và quản lý hiện đại trên thế giới, năng động sáng tạo, chủ động học hỏi những cái mới, cái tiến bộ của nhân loại. Vì vậy, cùng với sự phát triển của đất nước, thái độ và ý thức chính trị của thanh niên đã có những chuyển biến tích cực, thanh niên ngày càng quan tâm và có trách nhiệm hơn đối với những vấn đề của quê hương, đất nước, những vấn đề trong khu vực và trên thế giới. Ý thức lập nghiệp của thanh niên cũng cao hơn, tinh thần xung phong, tình nguyện, ý thức chia sẻ, tinh thần tương thân, tương ái đã được khơi dậy với một chất lượng mới, thanh niên đã chủ động và tự tin hơn trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.


Tuy nhiên, cùng với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế thanh niên đang đứng trước nhiều khó khăn thách thức lớn đó là: trình độ học vấn, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kiến thức kinh tế, quản lý, kiến thức pháp luật và ý thức chấp hành pháp luật của thanh niên nhìn chung còn thấp. Trong thanh niên nhận thức về học nghề, chọn nghề, định hướng nghề nghiệp còn nhiều lệch lạc, việc làm và thu nhập thấp vẫn đang là những vấn đề bức xúc trong thanh niên. Rồi sức khoẻ và thể chất của thanh niên nước ta còn thấp hơn các nước trong khu vực và trên thế giới rất nhiều, bên cạnh đó một bộ phận không nhỏ trong thanh niên thiếu ý thức rèn luyện để hoàn thiện nhân cách của mình, non kém về nhận thức chính trị, chưa xác định được lý tưởng sống đúng đắn…


Trước những thuận lợi và khó khăn của đất nước cũng như của bản thân mình, hơn lúc nào hết thanh niên Việt Nam phải nhận thấy rõ vị trí, vai trò của mình đối với sự phát triển của đất nước. Phải nhận thức được khó khăn lớn nhất của mình trong giai đoạn này là sự cạnh tranh quyết liệt về trí tuệ để đạt tới những đỉnh cao của khoa học, kỹ thuật và công nghệ cũng như trình độ quản lý. Để vượt qua được khó khăn đó, đòi hỏi rất cao ở thanh niên là phải tự học tập, tự rèn luyện để nâng cao trình độ về mọi mặt, phải trau dồi bản lĩnh chính trị, giữ vững lý tưởng XHCN, phấn đấu thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh với vai trò là chủ thể tích cực, là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp CNH, HĐH, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.


Để cùng đất nước vượt qua những khó khăn, trước mắt mỗi thanh niên phải nỗ lực nhiều hơn, đặc biệt là phải mở rộng tầm hiểu biết của mình về tình hình thế giới để có tư duy, hành động phù hợp hơn. Đây vừa là trách nhiệm, nghĩa vụ, vừa là quyền lợi của thanh niên, của tổ chức đoàn để cùng đất nước gặt hái được nhiều thành công trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế./.

 

 
Tác động của hội nhập quốc tế đối với thanh niên và công tác thanh niên hiện nay PDF. In bài viết Email
Tác giả: ThS Phạm Minh Thế Đại học Quốc gia Hà Nội   
(LLCT) - Trong quá trình lãnh đạo đất nước tiến hành công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế, Đảng ta đã khẳng định: thanh niên là cánh tay phải của Đảng, là rường cột của nước nhà, thanh niên là đội quân xung kích của cách mạng, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là đội dự bị tin cậy của Đảng và công tác thanh niên là một trong những nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu, là vấn đề sống còn của Đảng. Thành quả lao động sáng tạo của thanh niên đã góp phần rất lớn vào thành tựu của đất nước trong quá trình đổi mới. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, công tác thanh niên vẫn còn những bất cập, hạn chế. Những bất cập, hạn chế ấy đã đặt ra cho công tác thanh niên trong thời gian tới nhiều vấn đề bức thiết cần phải tập trung giải quyết.

1. Những tác động của hội nhập quốc tế đối với thanh niên Việt Nam trong quá trình đổi mới đất nước

Hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và toàn diện đã tạo ra những cơ hội để cho mọi công dân có thể mở rộng sự giao lưu và tìm kiếm cơ hội phát triển. Đối với thanh niên thì điều này càng trở nên quan trọng hơn bởi tuổi trẻ luôn năng động, sáng tạo, nhiệt huyết, nhanh nhạy nên có nhiều hơn các cơ hội để giao lưu, học tập. Tạo ra nhiều cơ hội, song hội nhập quốc tế cũng đã và đang đặt ra cho thanh niên Việt Nam nhiều thách thức lớn: đó là sự tương thích giữa trình độ học vấn với các cơ hội tìm kiếm việc làm có thu nhập cao; đó là sự tác động của lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền; đó là việc làm thế nào để dung hòa được giữa truyền thống và hiện đại trong lối sống, nếp sống,... Rõ ràng, sự tụt hậu về trình độ học vấn đã làm cho cơ hội tìm kiếm việc làm của thanh niên trong bối cảnh hội nhập quốc tế trở nên bấp bênh hơn ngay ở trong nước. Thanh niên là lực lượng lao động lớn của xã hội và là nguồn lực quan trọng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Hằng năm, có khoảng 1,2 - 1,6 triệu thanh niên bước vào tuổi lao động. Năm 2008, số thanh niên hoạt động kinh tế của cả nước hơn 16 triệu người, chiếm 67,2% tổng số thanh niên và chiếm 38,7% lực lượng lao động xã hội; năm 2009, số thanh niên hoạt động kinh tế tăng lên gần 18 triệu người, chiếm 75,4% tổng số thanh niên, 36,6% lực lượng lao động xã hội; năm 2010 con số đó là 17,1 triệu người, chiếm 75,9% tổng số thanh niên, 33,7% lực lượng lao động xã hội)(1).

Có thể nói, nguồn lực và tiềm lực của thanh niên là rất lớn. Tuy nhiên, tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm của thanh niên hiện nay ngày càng tăng. Tỷ lệ thanh niên trong độ tuổi lao động thiếu việc làm tăng từ 3% năm 2008 lên 5,6% năm 2009 và 4,1% năm 2010. Trong đó, khu vực thành thị là 2%, khu vực nông thôn là 4,9%.

Tình trạng thất nghiệp cũng có xu hướng tăng mạnh, tập trung chủ yếu ở nhóm thanh niên đô thị. Tỷ lệ thanh niên thất nghiệp
chiếm 4,2% năm 2008, 4,1% năm 2009 và tăng lên 5,2% năm 2010, trong đó ở khu vực đô thị
là 7,8%, cao gần gấp hai lần khu vực nông
thôn (4,3%).

Số đối tượng hưởng trợ cấp thất nghiệp ở nhóm thanh niên cũng chiếm tỷ lệ khá cao. Trong số những người hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng, số người ở độ tuổi dưới 24 là 12.275 người  (chiếm 24,5%); từ 25 - 40 tuổi là 31.366 người (chiếm 62,7%); trên 40 tuổi là 6.416 người (chiếm 12,8%)(2).

Lực lượng lao động là thanh niên có trình độ trung cấp chuyên nghiệp tăng từ 4,1% năm 2008 lên 6,2% năm 2009 và 6,5% năm 2010; trình độ cao đẳng, đại học tăng nhanh từ 5,5% năm 2008 lên 7,8% năm 2009 và 8,7% năm 2010. Mỗi năm có từ 70 đến 80 nghìn sinh viên hệ cao đẳng và 143 đến 160 nghìn sinh viên đại học tốt nghiệp, bổ sung cho lực lượng lao động xã hội(3). Như vậy, lực lượng lao động là thanh niên được đào tạo ngày càng tăng lên, nhưng tỷ lệ vẫn rất thấp so với tổng số lao động thanh niên (chưa đến 10%). Thực trạng trên đặt ra nhiều thách thức, khó khăn cho thanh niên trong quá trình hội nhập.

Mặt khác, hội nhập quốc tế với sự đầu tư, hỗ trợ ngày càng nhiều từ bên ngoài vào Việt Nam là một cơ hội tốt, nhưng nó cũng dẫn đến sự xáo trộn xã hội, đặc biệt là đối với thanh niên. Do phải vật lộn với cơ hội tìm kiếm việc làm, nhiều thanh niên đã di chuyển khỏi địa bàn cư trú của mình tới các khu vực đô thị và các khu công nghiệp. Điều đó đã làm cho việc tổ chức, quản lý thanh niên gặp khó khăn, thanh niên mất đi điều kiện được sinh hoạt trong tổ chức của chính mình - Đoàn Thanh niên, hoạt động của tổ chức thanh niên bị xáo trộn. Ở nhiều vùng quê hiện nay, hoạt động của tổ chức thanh niên đã gần như bị tê liệt vì không còn thanh niên, không còn đoàn viên. Đối với lực lượng thanh niên đã chuyển cư, do những sự khó khăn về nơi ở, thủ tục hành chính nên họ cũng không được tập hợp lại trong những tổ chức của Đoàn Thanh niên tại nơi họ làm việc. Rất ít thanh niên và đoàn viên tham dự hoạt động của tổ chức thanh niên trong các cơ sở sản xuất kinh doanh mặc dù họ còn đang trong độ tuổi. Hiện trạng này đã và đang làm cho vai trò của tổ chức thanh niên bị giảm sút, quyền, lợi ích và nghĩa vụ của thanh niên bị suy giảm nghiêm trọng.

Rõ ràng, quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng đã tác động, ảnh hưởng sâu sắc tới xã hội nói chung và thanh niên nói riêng. Sự tác động đó được thể hiện ở cả trong tư duy và hành động của giới trẻ. Đó là sự thay đổi nhận thức của thanh niên về đời sống xã hội, về giá trị của văn hóa, đạo đức, lối sống, về việc làm... Tuy vậy, trong quá trình hội nhập, đa số thanh niên có nhận thức đúng về sự cần thiết, mục đích và nội dung hội nhập quốc tế. Kết quả nghiên cứu năm 2006 của Viện Nghiên cứu Thanh niên cho thấy, tuyệt đại đa số thanh niên cho rằng, hội nhập quốc tế trong bối cảnh hiện nay là cần thiết và cấp bách (99,7%). Điều này cũng phản ánh nhu cầu tự thân, mong muốn của thanh niên là được mở rộng cơ hội học tập, lao động, giao lưu, hợp tác quốc tế, bắt kịp sự phát triển của thế giới, tiếp thu thành tựu khoa học, công nghệ. Đa số thanh niên cho rằng, hội nhập kinh tế cần được ưu tiên hàng đầu (76,6%), đào tạo nguồn nhân lực (69,3%), giao lưu văn hoá, du lịch, thể thao, hợp tác y tế, ngăn ngừa tội phạm, tham gia giải quyết các vấn đề toàn cầu (trên 40%). Đa số thanh niên hiểu rằng, hội nhập và hợp tác về văn hoá phải được tiến hành trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hoá nhân loại để làm giàu văn hoá dân tộc và không để mất bản sắc dân tộc trong văn hoá Việt Nam (76,1%). Điểm đáng chú ý là, đa số thanh niên thể hiện sự thận trọng trong hội nhập và khẳng định sự cần thiết phải giữ vững độc lập dân tộc và định hướng XHCN (88%)(4).

Bên cạnh đó, nhận thức của nhiều thanh niên về hội nhập quốc tế còn thiếu toàn diện, đơn giản. Thực tế cho thấy, hội nhập quốc tế đang ngày càng thấm sâu và tác động toàn diện tới mọi mặt đời sống của thanh niên, từ cách ứng xử trong giao tiếp; thẩm mỹ, nhu cầu âm nhạc, thể thao, giải trí đến tâm lý, mục tiêu, định hướng nghề, tìm kiếm việc làm... Do vậy, thanh niên Việt Nam, dù ở trong nước hay ngoài nước, dù ở nông thôn, miền núi hay thành thị đều đã, đang và sẽ chịu sự tác động ngày càng sâu sắc của quá trình hội nhập. Một bộ phận thanh niên còn mơ hồ trong xác định mục đích hội nhập quốc tế, chỉ thấy mặt tích cực mà chưa thấy hết được tiêu cực, thách thức. Một số thanh niên cho rằng cần hội nhập quốc tế bằng bất cứ giá nào; không chỉ hội nhập kinh tế mà còn cần hội nhập về văn hoá, tư tưởng và chính trị; họ dễ ngộ nhận, tôn thờ cuộc sống vật chất hay về tự do, dân chủ ở các nước khác. Lối sống, lối ứng xử ở một bộ phận thanh niên còn thiếu sự chọn lọc, thiếu chắt chiu những giá trị tích cực, đôi khi bắt chước một cách máy móc. Lối sống thực dụng, lối sống hưởng thụ, sùng ngoại và hướng ngoại thái quá của một bộ phận thanh niên đang có xu hướng lan toả trong giới trẻ. Một bộ phận thanh niên thiếu ý thức rèn luyện, non kém về nhận thức chính trị, chưa xác định được lý tưởng sống đúng đắn, thụ động, dễ bị lôi kéo xa rời định hướng XHCN, ca ngợi một chiều CNTB và các giá trị phương Tây; bản lĩnh và khả năng lựa chọn thông tin đúng đắn, các giá trị văn hoá đích thực trong một bộ phận thanh niên rất đáng lo ngại.

Trước tác động của hội nhập quốc tế, “Năng lực hội nhập, kỹ năng xã hội của thanh niên ngày nay được nâng lên nhưng chưa đáp ứng được đòi hỏi của quá trình hội nhập quốc tế; trong đó thanh niên đang thiếu hụt cả về kiến thức lịch sử và văn hóa dân tộc cũng như kỹ năng, khả năng tư duy độc lập. Đa số thanh niên thiếu kiến thức về ngoại ngữ, tin học, chưa có thói quen trong môi trường lao động và đời sống công nghiệp... Trước những diễn biến phức tạp của tình hình chính trị, kinh tế, xã hội trong khu vực và trên thế giới, một bộ phận thanh niên bản lĩnh chính trị non kém, dễ bị dao động về lập trường tư tưởng chính trị, có biểu hiện lệch lạc về giá trị đạo đức và lối sống, đề cao hưởng thụ, sống thực dụng, ích kỷ, cá nhân chủ nghĩa, thiếu trách nhiệm với cộng đồng”(5).

Như vậy, hội nhập quốc tế tạo ra nhiều cơ hội để phát triển nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức mà thanh niên phải vượt qua. Đây cũng là những vấn đề mà công tác thanh niên của Đảng và Nhà nước cần phải giải quyết trong thời gian tới.

2. Những vấn đề đặt ra cho công tác thanh niên trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Vận động thanh niên là một trong những nội dung công tác rất quan trọng của Đảng. Ngay từ khi mới thành lập, Đảng ta đã rất quan tâm đến công tác thanh niên. Trong quá trình lãnh đạo đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế, Đảng khẳng định: “công tác thanh niên là vấn đề sống còn của dân tộc, là một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng” (6).

Trong những năm qua, công tác thanh niên được đổi mới và đã đạt nhiều kết quả quan trọng. Sự góp mặt của thanh niên vào quá trình xây dựng đất nước ngày càng rõ rệt, đặc biệt là trên phương diện giáo dục đào tạo, rèn luyện cán bộ kế cận. Có thể nói đội ngũ cán bộ trong các cơ quan công quyền đã ngày càng được trẻ hóa, đội ngũ doanh nhân, doanh nghiệp cũng đã xuất hiện ngày càng nhiều những gương mặt trẻ sáng giá.

Tuy nhiên, nhìn vào thực tế của công tác thanh niên trong bối cảnh hội nhập quốc tế, cũng vẫn còn nhiều hạn chế, đó là: vẫn còn những chủ trương, chính sách, phong trào hay cuộc vận động không thích hợp với thanh niên, có chủ trương được xây dựng mà thiếu những điều tra, nghiên cứu khoa học đối với thanh niên một cách sâu sắc, toàn diện. Không ít hoạt động mang tính hình thức, không thiết thực giải quyết những vấn đề nóng bỏng của thanh niên; thiếu những chính sách nhất quán, đồng bộ và lâu dài ở tầm vĩ mô đối với công tác thanh niên. Mặc dù Chính phủ đã có một số chính sách nhằm bồi dưỡng và phát huy vai trò của thanh niên, nhưng vẫn là chính sách mang tính giải quyết tình thế, chưa mang tính hệ thống. Nhận thức của nhiều cấp ủy, chính quyền về công tác thanh niên chưa đầy đủ, coi công tác thanh niên là việc của Đảng, của Đoàn, do đó chưa tạo sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội trong việc bồi dưỡng và phát huy vai trò của thanh niên.

Đánh giá chung về những hạn chế, bất cập của công tác thanh niên, Hội nghị Trung ương bảy khoá X chỉ rõ: “Một số cấp uỷ đảng chưa quan tâm đúng mức lãnh đạo công tác thanh niên; việc đôn đốc, kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng về công tác thanh niên không thường xuyên, kịp thời; công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ trẻ chưa thực sự được coi trọng; chưa làm tốt công tác phát triển đảng trong thanh niên... Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhiều địa phương chưa phối hợp chặt chẽ, chưa tạo được sức mạnh tổng hợp trong công tác thanh niên”(7).

Công tác thanh niên đang đứng trước những xu hướng và thách thức mới, đó là:

- Công tác thanh niên không chỉ mang tính dân tộc, quốc gia mà hiện nay nó còn mang tính khu vực và quốc tế sâu sắc do sự lan tỏa và ảnh hưởng của hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Vì vậy, đòi hỏi phải có chiến lược cụ thể hơn đối với công tác thanh niên trong thời gian tới để định hướng cho sự hội nhập. Thực tiễn cho thấy, định hướng chủ động và tích cực hội nhập quốc tế của Đảng trong thời gian qua trong công tác thanh niên chưa được thực hiện tốt, thanh niên Việt Nam còn bỡ ngỡ, bị động và chưa đủ bản lĩnh để hội nhập.

- Hiện nay, thanh niên đã tham gia hoạt động trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội như kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và an ninh - quốc phòng. Trong nhiều lĩnh vực, thanh niên giữ vai trò chủ chốt. Điều này cho thấy, vai trò, nhiệm vụ của thanh niên đã ngày càng được tăng cường, song công tác thanh niên lại chưa đáp ứng được. Thực tế hiện nay có rất nhiều tổ chức xã hội mới thành lập có sự tham gia của thanh thiếu niên nhưng lại thiếu vắng hẳn sự có mặt của tổ chức thanh niên.

- Nhu cầu hội nhập quốc tế để được học hỏi, trao đổi nâng cao trình độ, năng lực của thanh niên là chính đáng, nhưng việc hội nhập, giao lưu, học hỏi của thanh niên đang còn thiếu sự định hướng, quản lý của các cơ quan, tổ chức. Điều này làm cho những ảnh hưởng tiêu cực từ bên ngoài rất dễ nảy sinh và lây lan trong thanh niên Việt Nam, đặc biệt là về đạo đức, lối sống. Đây là một thách thức không nhỏ đổi với việc đào tạo và rèn luyện thanh thiếu niên.

- Đội ngũ cán bộ, bộ máy làm công tác thanh niên có xu hướng công chức hóa, hành chính hóa và hầu hết là kiêm nhiệm, rất hiếm cán bộ chuyên trách hiểu và có chuyên môn về công tác thanh niên. Thiếu cán bộ được đào tạo, rèn luyện, chuẩn hóa chuyên về công tác thanh niên là một thách thức lớn, khó khăn lớn đối với công tác thanh niên trong bối cảnh hội nhập.

- Điều kiện vật chất phục vụ công tác thanh niên bị thu hẹp trong mối tương quan với các mặt công tác khác, đặc biệt là các hoạt động của cơ quan nhà nước.

- Trong điều kiện kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, việc di cư tìm kiếm việc làm diễn ra phổ biến, nhiều nơi có tình trạng “chi đoàn không có thanh niên”, do thanh niên thường xuyên di chuyển nên không có điều kiện để tham gia hoạt động trong các tổ chức của mình. Mặt khác, công tác thanh niên hiện cũng chưa “phủ khắp” các đối tượng, vùng miền, thành phần kinh tế.

Từ những hạn chế và thách thức như vậy, công tác thanh niên trong thời gian tới cần được đổi mới theo hướng: Nâng cao nhận thức của cấp ủy đảng và cả hệ thống chính trị đối với công tác thanh niên. Công tác thanh niên phải thật sự là công tác của toàn Đảng, của mỗi một tổ chức đảng và đảng viên; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng về chủ trương, đường lối, công tác cán bộ, kiểm tra và nêu gương sáng đảng viên trong công tác thanh niên; phát huy vai trò quản lý nhà nước đối với công tác thanh niên, đẩy mạnh quá trình hoạch định chính sách, pháp luật liên quan đến thanh niên và công tác thanh niên; quan tâm đầu tư cho các chủ thể làm công tác thanh niên;... Muốn làm được điều đó, cần đổi mới hoạt động công tác thanh niên, cả về tổ chức, giáo dục, rèn luyện tư tưởng chính trị và phương thức tập hợp của tổ chức Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh để giáo dục, rèn luyện thanh niên thật sự là lực lượng xung kích trong thời đại mới có tâm trong, trí sáng, hoài bão lớn, Đoàn thanh niên xứng đáng là đội dự bị tin cậy của Đảng.

___________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 4-2013

(1),(2),(3) Xem: http://www.molisa.gov.vn,  Một số vấn đề về lao động và việc làm của thanh niên hiện nay của GS, TS Đặng Cảnh Khanh.

(4) Xem: website của VOV http://media.vovnews.vn,  Thanh niên Việt Nam với hội nhập và phát triển.

(5) Xem: http://www.molisa.gov.vn,  Phát huy vai trò xung kích của thanh niên trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

(6) ĐCSVN: Văn kiện Đảng Toàn tập, t.52, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.365.

(7) ĐCSVN: Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khoá X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008, tr.38-39.

 

ThS Phạm Minh Thế

Đại học Quốc gia Hà Nội

 
Thanh niên với vấn đề hội nhập: Khát vọng vươn xa PDF. In bài viết Email
Tác giả: Văn An - TTTĐ   
TTTĐ.VN - Thanh niên Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước, là lực lượng xã hội to lớn của hiện tại và là chủ thể sáng tạo của tương lai. Đặc biệt, trong quá trình hội nhập quốc tế sâu, rộng như hiện nay, thanh niên càng cần phải trở thành lực lượng xung …
Cập nhật ngày
 
Thanh niên với vấn đề hội nhập - Bài 2: Trọng trách lớn lao của thanh niên PDF. In bài viết Email
Tác giả: Văn An - TTTĐ   

TTTĐ.VN - Thế hệ thanh niên ngày nay được sống, học tập, lao động trong môi trường hòa bình; được thừa hưởng những thành quả của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, được cống hiến và trưởng thành trong sự ổn định về chính trị, sự phát triển vũng chắc của kinh tế - xã hội và đời sống vật chất, tinh thần của người dân không ngừng được cải thiện; được gia đình và xã hội dành cho nhiều cơ hội học tập để có trình độ văn hóa, chuyên môn cao hơn các lớp thanh niên đi trước. Những lợi thế đó là hành trang giúp thanh niên vững bước tham gia vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập quốc tế…

Thời cơ và thách thức

Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đánh giá đúng vị trí, vai trò quan trọng của thanh niên trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Đảng xác định thanh niên là người chủ hiện tại và tương lai của đất nước, là đội quân xung kích cách mạng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Xuất phát từ quan điểm đó, Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành và toàn xã hội luôn dành sự quan tâm, chăm lo đặc biệt đối với thanh niên và tổ chức Đoàn, nhất là trong thời kỳ phát triển đất nước và hội nhập quốc tế. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta khẳng định: "Chú trọng cải thiện điều kiện sống lao động và học tập của thanh niên, thiếu niên, giáo dục và bảo vệ trẻ em"; “Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ kế tục xứng đáng sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc".

Quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế, phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 là điều kiện, môi trường thuận lợi để thanh niên thể hiện tài năng, sức trẻ, cống hiến cho đất nước. Với đường lối đúng đắn của Đảng đất nước tiếp tục ổn định, vị thế không ngừng tăng lên đã tạo cơ hội lớn cho thanh niên học tập, tiếp cập văn minh nhân loại, nâng cao tri thức, nhất là những thành tựu khoa học - công nghệ. Sự quan tâm của mỗi gia đình đối với lớp trẻ không ngừng tăng lên là cơ sở, nguồn lực, điều kiện quan trọng để chăm lo tốt hơn cho thanh niên những năm tới đây.

Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh không ngừng lớn mạnh, các hoạt động của Đoàn bám sát nhiệm vụ chính trị của đất nước, phù hợp với từng đối tượng thanh niên, phát huy vai trò xung kích, tình nguyện của tuổi trẻ trong phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Đoàn từng bước quan tâm chăm lo tốt hơn các nhu cầu nguyện vọng chính đáng của thanh niên, trở thành người bạn gần gũi của thanh niên.

Tuy nhiên, tình hình thế giới và trong nước đang có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, những nguy cơ chung của đất thuốc mà Đảng ta chỉ ra là những thách thức lớn đối với tuổi trẻ: Kinh tế đất nước vẫn còn nhiều khó khăn; sự chuyển dịch về cơ cấu kinh tế, sự phân hóa giàu nghèo ngày càng gia tăng, quá trình phát triển kinh tế thị trường sẽ tạo ra những thách thức đối với thanh niên về trình độ học vấn chuyên môn, nghiệp vụ, tay nghề, bản lĩnh và tác động sâu sắc đến tư tưởng, tình cảm, lối sống của thanh niên. Bên cạnh đó, các thế lực bên ngoài luôn âm mưu xóa bỏ những thành quả của chế độ xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc đặt ra thách thức lớn cho thanh niên. Mục tiêu của chúng là luôn nhằm vào thanh niên, coi đây là đối tượng dễ lung lạc để dùng các thủ đoạn kinh tế, chính trị và văn hoá tác động làm biến chất, tạo mầm mống chống đối chế độ; ra sức lôi kéo, tha óa thanh niên, kích động thanh niên tham gia các hoạt động gây mất ổn định tình hình an ninh chính trị đất nước. Ngoài ra, dưới sự tác động của toàn cầu hóa, những sản phẩm độc hại phi văn hóa bằng nhiều con đường, nhất là qua internet, các phương tiện truyền thông sẽ tác động trực tiếp liên tục với cường độ cao đến lối sống, nếp sống của thanh niên, tạo sức ép, gây nhiều khó khăn, phức tạp cho việc bảo vệ và phát huy văn hoá dân tộc trong giới trẻ. Sự gia tăng của các tệ nạn xã hội như ma túy, mại dâm, tội phạm nguy hiểm, côn đồ, hung hãn, băng nhóm… đã, đang và sẽ tác động xấu đến thanh niên.

Rõ ràng, bối cảnh trong nước và quốc tế không chỉ đem đến cơ hội, thuận lợi và thời cơ mà còn đem đến nhiều khó khăn và thách thức đối với thanh niên. Điều cơ bản là mỗi thanh niên cần có đủ bản lĩnh, ý chí, trình độ để phát huy thuận lợi, tận dụng thời cơ, khắc phục khó khăn, vượt qua thách thức; phát huy tinh thần tự học, tự rèn luyện, có đủ tâm, đủ tầm để tham gia vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chủ động tham gia vào nền kinh tế tri thức và quá trình hội nhập quốc tế.

Thanh niên phải là nguồn lực chất lượng cao

Thanh niên đã và đang cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phấn đấu cho lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Thanh niên Việt Nam ngày nay mang trên vai trọng trách lịch sử, đó là phải trở thành lực lượng lao động có trí tuệ và có tay nghề cao, có đạo đức và lối sống trong sáng, có sức khỏe thể chất và sức khỏe tâm thần cường tráng để dần dần xóa bỏ ranh giới tụt hậu, sánh vai với thanh niên các nước trên thế giới.

Để đạt được những tiêu chí và các phẩm chất trên, đòi hỏi bản thân thanh niên phải tự học, tự rèn luyện, tự tu dưỡng, tự tin, tự chịu trách nhiệm để trở thành nguồn lao động chất lượng cao, trở thành người thừa kế trung thành sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.

Trước hết, thanh niên phải tích cực tham gia học tập nâng cao trình độ lý luận chính trị, bồi đắp lý tưởng cách mạng trong sáng. Bối cảnh trong nước và quốc tế đang tác động một cách toàn diện lên tư tưởng, tình cảm, lối sống, nhu cầu của từng thanh niên. Do đó, thanh niên phải rèn luyện để có lập trường tư tưởng vững vàng, có lòng yêu nước, có niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng và lối sống lành mạnh; đấu tranh chống lại âm mưu "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch và các tiêu cực, tệ nạn xã hội, tham nhũng...

Trong thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội trong nước và hội nhập quốc tế, thanh niên nước ta cần nâng cao trình độ học vấn, tay nghề, khả năng thực tế, kỹ năng lao động để thích ứng với thị trường lao động trong nước và thị trường lao động quốc tế. Thanh niên phải tích cực tham gia xây dựng xã hội học tập với phương châm: Thanh niên nào cũng phải học; ở đâu, làm gì, thời gian nào cũng phải học.

Bên cạnh đó, thanh niên phải tích cực tham gia vào việc xây dựng môi trường xã hội lành mạnh và môi trường sinh thái trong lành, sạch đẹp; tích cực tham gia phòng, chống ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu; xung kích, đi đầu trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh…

Để chủ động hội nhập, thanh niên cần chủ động tham gia vào quá trình hợp tác quốc tế, giải quyết các vấn đề toàn cầu; tham gia vào công tác ngoại giao nhân dân để nâng tầm ảnh hưởng của Việt Nam trên trường quốc tế; chủ động và tham gia có hiệu quả vào giải quyết các vấn đề toàn cầu...

Cách mạng nước ta đang chuyển sang thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa với mục tiêu sớm đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển, phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Mục tiêu đó đã và đang đặt ra những yêu cầu, trọng trách lớn lao đối với thế hệ trẻ hôm nay.

 
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 – thách thức và cơ hội PDF. In bài viết Email
Tác giả: Từ Nga (thực hiện). Theo http://www.misa.com.vn/   

Trước thềm 2017, khi cả thế giới đang nóng lên bởi những khái niệm của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần MISA Lữ Thành Long đưa ra những nhận định của người dẫn dắt tập thể hơn 1.000 nhân sự tinh nhuệ trong ngành CNTT – lĩnh vực chủ lực tạo ra sự thay đổi mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp này.

 

Thế giới đang biến chuyển ra sao, các lĩnh vực kinh tế – xã hội đang chịu những tác động gì? Các công ty CNTT như MISA đang đứng ở đâu trong dòng chảy thời đại, tâm thế nào để nắm bắt và làm chủ cuộc cách mạng công nghiệp này?

Phóng viên: Thưa ông, lịch sử thế giới đã chứng kiến những cuộc cách mạng công nghiệp nào và yếu tố then chốt trong sự thay đổi qua từng cuộc cách mạng công nghiệp đó là gì? 

Chủ tịch Lữ Thành Long: Cụm từ “cách mạng công nghiệp” hàm chứa trong đó sự thay đổi lớn lao, không chỉ biến đổi nền kinh tế mà cả văn hóa, xã hội một cách toàn diện. Nhìn lại lịch sử, chúng ta đã chứng kiến những cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lớn:
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất xảy ra khi loài người phát minh ra động cơ hơi nước, tác động trực tiếp đến các ngành nghề như dệt may, chế tạo cơ khí, giao thông vận tải. Động cơ hơi nước đưa vào ô tô, tàu hỏa, tàu thủy, mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử nhân loại.

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai đến khi loài người phát minh ra động cơ điện, mang lại cuộc sống văn minh hơn, năng suất tăng nhiều lần so với động cơ hơi nước.

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 3 xuất hiện khi con người phát minh ra bóng bán dẫn, điện tử, kết nối thế giới liên lạc được với nhau. Vệ tinh, máy bay, máy tính, điện thoại, Internet… những công nghệ hiện nay chúng ta đang thụ hưởng là từ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 3 này.
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 là cuộc cách mạng số, thông qua các công nghệ như Internet vạn vật (IoT), trí tuệ nhân tạo (AI), thực tế ảo (VR), thực tại ảo (AR), mạng xã hội,điện toán đám mây, di động, phân tích dữ liệu lớn (SMAC)... để chuyển hóa toàn bộ thế giới thực thành thế giới số.

Phóng viên: Vậy theo ông, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 có tác động như thế nào đến các lĩnh vực của đời sống, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển như Việt Nam?

Chủ tịch Lữ Thành Long: Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 diễn ra mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực, với sự xuất hiện của công nghệ rô bốt có trí tuệ nhân tạo mang lại nhiều ứng dụng trong xã hội. Nhờ có trí tuệ nhân tạo bên trong, rô bốt càng làm việc càng thông minh, có khả năng ghi nhớ, học hỏi vô biên, trong khi khả năng đó ở con người càng già càng yếu đi. Ưu điểm có thể làm việc 24/24, không cần trả lương, đóng thuế, bảo hiểm… của rô bốt cũng đang đe dọa đến sự tương quan trong việc sử dụng lao động là người thật hay rô bốt. Khi mà rô bốt càng làm việc càng tốt lên, thì không có lý do gì để sử dụng lao động con người với những yếu điểm như sức khỏe, ý thức... ngày càng giảm sút.

Trước cuộc cách mạng công nghiệp thứ 4 với công nghệ rô bốt phát triển, những yếu tố mà các nước đang phát triển đã và đang tự coi là thế mạnh như lực lượng lao động thủ công trẻ, dồi dào thì nay sẽ không còn là thế mạnh nữa, thậm chí bị đe dọa nghiêm trọng. Trong một tương lai rất ngắn nữa thôi, người dân có thể mất đi việc làm, nền kinh tế sẽ đối mặt với nguy cơ lớn. Những lĩnh vực mà công nghệ rô bốt có thể tác động tới trải dài từ dệt may, dịch vụ, giải trí cho đến y tế, giao thông, giáo dục...

Trên thực tế, cuộc cách mạng KHCN lần thứ 4 đang thay đổi lợi thế cạnh tranh của các nước đang phát triển như VN. Cạnh tranh của VN từ năm 2020 trở đi không phải với Trung Quốc, Bangladesh, Malaysia, Ấn Độ hay Mexico mà là với những Cty tự động hóa của Mỹ, Nhật.

Dự đoán về tác động khủng khiếp của công nghệ rô bốt trong tương lai, nhà vật lý, vũ trụ học nổi tiếng nhất thế giới Stephen Hawking gần đây đã có phát ngôn chấn động: Loài người đang đối diện với khả năng diệt vong trong 1.000 năm nữa, nếu không phải vì chiến tranh hạt nhân thì cũng vì công nghệ rô bốt phát triển. Có thể, những cảnh hủy diệt kinh điển trong bộ phim Terminator sẽ không chỉ tồn tại trên màn ảnh nữa.

Trong lĩnh vực dệt may:

Trước đây các nước Mỹ, Anh có ngành dệt may phát triển, nhưng vì thiếu hụt lao động nên đã dịch chuyển thuê nhân công sang Canada, Mexico, từ đó sang Trung Quốc, Ấn Độ và các quốc gia như Việt Nam – những nơi có lực lượng lao động thủ công giá rẻ dồi dào.

Nhưng với công nghệ rô bốt trong cuộc cách mạng lần thứ 4 này, nhiều nhà máy dệt may trước đây đặt ở Việt Nam, Trung Quốc, Ấn Độ bắt đầu quay ngược lại đặt ở Mỹ, bởi lẽ nước Mỹ không còn cần đến lao động thủ công giá rẻ nữa vì họ đã bắt đầu sử dụng rất nhiều rô bốt. Những việc xưa nay chỉ có lao động thủ công mới làm được với giá rẻ thì nay rô bốt có thể làm được với chi phí còn rẻ hơn nữa.

Báo cáo mới đây của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) cung cấp số liệu đáng lo ngại khi mà hơn 2/3 trong số 9,2 triệu lao động ngành dệt may và da giày tại Đông Nam Á đang bị đe dọa bởi sự bùng nổ nhanh chóng của ứng dụng khoa học công nghệ trong ngành này. Cụ thể, khoảng 86% lao động của Việt Nam, 88% lao động của Campuchia và 64% lao động Indonesia trong ngành may mặc, da giày sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề từ làn sóng tự động hóa, công nghiệp hóa trong ngành. Như vậy, một khối lượng lớn công việc dành cho con người sẽ dịch chuyển dần sang cho rô bốt. Khi đó, lao động giá rẻ làm việc tại các nhà máy dệt may của các nước đang phát triển như Việt Nam sẽ đối mặt với tình trạng thất nghiệp ngay trên chính quê hương mình.

Trong lĩnh vực Thương mại, dịch vụ, giải trí:

Rô bốt cũng đã hiện diện ở những vị trí công việc vốn cho rằng không thể thay thế con người. Những người làm việc ở quầy bar, cửa hàng, quán ăn, nhà hàng, gia đình... đang gặp nguy cơ lớn vì rô bốt có thể làm những việc như pha chế đồ uống, bán hàng, chế biến đồ ăn, dọn nhà… như một con người. Tại Nhật Bản, Hàn Quốc, rô bốt bắt đầu xuất hiện khá nhiều trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ. Tại khu vực lễ tân khách sạn, cơ quan, công ty, cửa hàng, khi có khách đến rô bốt có thể tự động nhận dạng, ghi nhớ để chào hỏi. Rô bốt nhớ được sở thích, trả lời các nhu cầu của khách hàng bằng giọng nói hoàn toàn như con người.

Như vậy, ngay đến cả các công việc con người vốn cho rằng cần sự giao tiếp, sự khéo léo thì rô bốt cũng làm được. Ở khắp mọi nơi, sự hiện diện của rô bốt sẽ đe dọa đến cơ hội việc làm của con người.

Tại Việt Nam, lực lượng lao động trình độ thấp vẫn chiếm lượng lớn, bởi vậy, đây chính là nhóm người dễ tổn thương nhất khi sự tấn công của công nghệ sẽ khiến họ tuột đi các vị trí công việc vốn trước đây dành cho họ. Năm 2016, Việt Nam xếp vị trí 60/138 nền kinh tế trong Báo cáo Năng lực Cạnh tranh Toàn cầu (theo báo cáo của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF), với lo ngại lớn nhất là trình độ của lực lượng lao động. Như vậy, lao động trình độ thấp vốn đã dễ thất nghiệp, nay trước sự thay thế dần của rô bốt, tình trạng thất nghiệp sẽ gia tăng một cách báo động.

 

 

Những ngành nghề tưởng như sử dụng lượng lớn nhân sự con người và không thể thay thế bằng rô bốt như call center – hệ thống tổng đài trả lời trong ngành viễn thông, ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán cũng bị đe dọa. Nước Mỹ từng thuê ngoài (out-sourcing) công việc này sang Ấn Độ và một số quốc gia khác. Hàng trăm ngàn người đang làm việc cho các call center trên khắp thế giới.

Nhưng hiện nay, khá nhiều call center của các hãng viễn thông, ngân hàng tại Mỹ đã chuyển sang dùng rô bốt để tự động trao đổi, trả lời các yêu cầu của khách hàng. Lao động tại các nước đang phát triển như Việt Nam khi đó đối mặt với việc không thể giữ thế mạnh rẻ, dồi dào, sử dụng tốt ngoại ngữ, lệch múi giờ nên có thể phục vụ 24/24... trong nghề này nữa, khi mà rô bốt còn có thể làm tốt hơn thế với mức chi phí rẻ hơn.

 

 

Trong lĩnh vực Giao thông công cộng:

Thế hệ ô tô không người lái sẽ phát triển.Trong tương lai gần các lái xe có thể không tìm được việc làm. Khoa học chứng minh xe tự lái đảm bảo an toàn giao thông cao gấp nhiều lần vì không có trạng thái say rượu bia, vượt đèn đỏ, phóng nhanh vượt ẩu.

Câu chuyện xảy ra tại Mỹ tháng 8 năm 2016 được đưa ra làm bằng chứng về sự an toàn của xe ô tô tự lái. Một người đàn ông đang sử dụng xe tự lái của Tesla thì có triệu chứng đau tức ngực. Ông ta kịp thời liên hệ với vợ để gọi tới bệnh viện báo cho bác sĩ chờ đón sẵn. Ông này ra lệnh cho xe tự lái tới bệnh viện. Các bác sĩ đã cấp cứu kịp thời, cứu sống người đàn ông này. Sau vụ việc, giới khoa học phân tích rằng nếu người đàn ông này đang ở trên xe không có khả năng tự lái, ông ta có nguy cơ sẽ chết.

Hiện ô tô không người lái đã được đưa vào ứng dụng tại Mỹ. Hãng Uber đã đặt hàng chục ngàn xe loại này để đưa vào vận hành taxi không người lái. Như vậy, hàng chục ngàn lái xe và chắc chắn con số sẽ nhiều hơn nữa cũng đang đối diện với nguy cơ thất nghiệp ngay trên đường phố của đất nước mình.

 

Trong lĩnh vực Y tế:


Chiếc máy IBM Watson có biệt danh "Bác sỹ biết tuốt" có thể lướt duyệt cùng lúc hàng triệu hồ sơ bệnh án để cung cấp cho các bác sĩ những lựa chọn điều trị dựa trên bằng chứng chỉ trong vòng vài giây. Bác sĩ có thể có xác suất đưa ra phán đoán sai lầm nhưng với IBM Watson thì cực kỳ chính xác nhờ khả năng tổng hợp dữ liệu khổng lồ và tốc độ xử lý mạnh mẽ. “Bác sĩ biết tuốt” này còn cho phép con người tra thông tin về tình hình sức khỏe của mình. Các bác sĩ chỉ cần nhập dữ liệu người bệnh để được phân tích, so sánh với kho dữ liệu khổng lồ có sẵn và đưa ra gợi ý hướng điều trị chính xác.

Hay mới đây, một bệnh viện tại Tp.Hồ Chí Minh đã tổ chức ra mắt robot phẫu thuật. Các cánh tay của hệ thống robot này hoạt động như một cánh tay của bác sĩ phẫu thuật. Với 4 cánh tay cho phép các bác sĩ tiến hành phẫu thuật nhiều mặt bệnh với sự xâm lấn tối thiểu và độ chính xác, hiệu quả an toàn vượt trội, giúp bệnh nhân ít mất máu, ít đau, giảm nguy cơ tai biến và mau hồi phục. 

Như vậy, không chỉ đe dọa thay thế nhân sự trình độ thấp, mà ngay đến cả nhân sự trình độ cao như bác sĩ, rô bốt cũng dễ dàng thay thế. Việc thất nghiệp với nhân sự trình độ cao bị đe dọa không rõ ràng như trình độ thấp, nhưng là điều khó tránh khỏi nếu không nhanh chóng nắm bắt xu hướng của công nghệ để thay đổi, làm chủ nó thay vì bị nó tấn công.

Trong lĩnh vực Giáo dục:

Trong bối cảnh vạn vật biến đổi như vậy, không thể giữ cách dạy và học cũ. Trước đây, khi đào tạo nghề phi công, học viên phải lên máy bay với giảng viên bay trên bầu trời. Điều này quá nguy hiểm khi có thể xảy ra tai nạn thương tâm lấy đi mạng sống của cả thầy và trò. Công nghệ thực tế ảo sẽ cho phép học viên đeo một chiếc kính nhìn thấy phía trước là cabin và học lái máy bay như thật. Vì vậy có thể thực hành đến khi nhuần nhuyễn rồi mới lái, giảm thiểu rủi ro.
Giáo viên lịch sử truyền thống đang chuẩn bị tranh ảnh để học sinh hiểu hơn về một trận đánh, di tích hay cách thức giao tiếp với nhau trong xã hội cổ đại. Nhưng cũng chỉ là tưởng tượng qua ngôn ngữ và hình ảnh. Giờ đây với công nghệ thực tế ảo, học sinh có thể đeo kính ảo và nhập vai ngay, chứng kiến những trận đánh, ngắm nhìn di tích, mang lại cảm xúc và sự ghi nhớ sâu sắc, giúp bài học thấm thía hơn.

Như vậy, trong tương lai, số lượng giáo viên ảo có thể nhiều hơn lượng giáo viên thực rất nhiều.
Trước sự biến đổi này, khó có thể giúp học sinh bắt kịp yêu cầu và tốc độ đào tạo nguồn nhân lực mà cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đòi hỏi nếu vẫn giữ cách giáo dục cũ.

Trong lĩnh vực Nông nghiệp:

Lúc này không còn là nông nghiệp thuần túy. Khi chưa có công nghệ hỗ trợ, cây không hấp thụ được 80-90% lượng phân bón do bón sai thời điểm, sai cách thức dẫn tới lãng phí lớn. Công nghệ IoT với hàng loạt hệ thống cảm biến và đầu đo (sensor) có thể giúp bón phân đúng thời điểm, cách bón khoa học vào chỗ thích hợp, lượng cần thiết vừa đủ cho cây, giúp tiết kiệm chi phí so với phương thức truyền thống hiện nay.

Như vậy, nền nông nghiệp phải đối mặt với việc các nước phát triển sẽ không sử dụng sản phẩm từ các nước đang phát triển như Việt Nam nữa. Họ có thể tự sản xuất lương thực, thực phẩm bằng diện tích đất chỉ bằng 1/100 hay 1/1000 các nước đang phát triển làm, với năng suất cao hơn nhiều lần nhờ cách chăm sóc khoa học.

Nông dân công nghệ thấp sẽ dần mất đi việc làm và nguồn tiêu thụ vào tay nông dân công nghệ cao. Khi đó, nông dân - nhóm người vốn bấp bênh nhất về công việc cũng sẽ rơi vào tình trạng thất nghiệp.

Như vậy, đây không phải là câu chuyện tương lai, mà là câu chuyện của hiện tại. Một cuộc cách mạng công nghiệp đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới, tác động lên nhiều lĩnh vực như dệt may, giao thông, du lịch, thương mại, giải trí, nông nghiệp, y tế, giáo dục… khiến nền kinh tế sẽ chịu tác động rất lớn. Quan trọng chúng ta có nhận thức được điều đó hay không.

Phóng viên: Ông có thể đưa ra mô tả hình dung về thế giới của chúng ta trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 sẽ như thế nào?

Chủ tịch Lữ Thành Long: Đó là Digital Transformation - chuyển đổi số. Thế giới thực mà chúng ta biết, từ con người, xe cộ, nhà cửa, tài sản, công ty, trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 này sẽ chuyển đổi toàn bộ thế giới gốc sang thế giới số. Sẽ có bản sao của thế giới thực trên nền thế giới số, hay nói cách khác là bản sao số hóa của thế giới thực trên Internet.

Khái niệm này giống như việc chơi game nhập vai, vai trên game tương đương với nhân vật ngoài đời thực. Mỗi thực thể sống sẽ có một bản sao tương đương trong thế giới số. Nhịp tim, nhịp thở, di chuyển, tài sản,… của thực thể ở thế giới thực ra sao thì bản sao ở thế giới số cũng y hệt vậy. Mọi thứ ánh xạ giữa thế giới thực và thế giới số gần như với tỷ lệ 1:1.
Phóng viên: Chúng ta có cơ hội trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 này như thế nào, thưa ông?

Chủ tịch Lữ Thành Long: Có 3 cơ hội mà chúng ta có thể nhìn thấy rõ, đó là:
Thứ nhất, nắm bắt xu hướng chuyển đổi sớm sẽ có khả năng tồn tại và phát triển trong tương lai.
Thứ hai, khi xu hướng thay đổi, nhiều doanh nghiệp sẽ chết đi, doanh nghiệp nào bắt kịp tốt sẽ giữ thế tiên phong, đứng đầu.
Thứ ba, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 có thể kéo theo "bị hủy diệt", nhưng nếu biết nắm bắt thì có thể chuyển từ trạng thái "bị hủy diệt" sang trạng thái "hủy diệt", làm chủ thời cơ.

Mặc dù phải đối mặt với rất nhiều nguy cơ nhưng cũng có cơ hội cho những quốc gia nhận thức sớm được xu hướng chuyển đổi. Khi đó, việc đào tạo đúng hướng về hành vi nghề nghiệp sẽ mang lại sự chiếm lĩnh cơ hội sớm. 

Ví dụ, với nghề sửa ô tô, trong thế giới số xe được vận hành bằng số hóa nên sẽ đo được bộ phận nào đến thời gian nào sẽ hỏng để tự động thông báo cho thợ và chủ xe gặp nhau giải quyết vấn đề. Hay hàng loạt hệ thống cảm biến và đầu đo (sensor) được đặt quanh cơ thể người, biết người đó sắp bệnh không, khả năng bệnh gì, lập tức thông báo cho bệnh viện để lên kế hoạch điều trị. 

Mọi hành vi nghề nghiệp, cách thức kinh doanh trong thế giới số sẽ thay đổi, biến đổi hoàn toàn. Sẽ xuất hiện nhiều ngành nghề như tạo ra hệ thống sensor, đưa vào các hệ thống có sẵn để chuyển đổi thế giới thực sang thế giới số. Những chiếc ô tô không bỏ đi mà được lắp sensor để chuyển thành xe số chạy trên Internet. Những không gian như thang máy cũng biến thành thang máy số, thậm chí, thú cưng cũng có thể chuyển thành thú cưng trên Internet. Biết bao điều mới mẻ sẽ sinh ra vô số công việc mới liên quan.

Khi biết được xu thế xã hội, định hướng của các quốc gia về đào tạo và định hướng nghề nghiệp của cá nhân mỗi người cũng sẽ chuyển đổi theo. Các công ty, tập đoàn lớn sẽ đặt các kế hoạch, chiến lược của mình 5-10 năm tới trong bối cảnh thế giới thay đổi thành thế giới số để làm sao tiếp tục tồn tại và phát triển. Nếu chúng ta vẫn giữ cách làm cũ, sẽ phải đối diện với nguy cơ trì trệ, phá sản, đóng cửa không xa.

Phóng viên: Trong thế giới mới, trước những thách thức như vậy, các doanh nghiệp phải làm gì để tồn tại, phát triển, đặc biệt là các doanh nghiệp CNTT như MISA thưa ông?

Chủ tịch Lữ Thành Long: Xin hãy ghi nhớ 4 tinh thần sau để nắm bắt cơ hội:

Thứ nhất: Xây dựng chiến lược kinh doanh trong bối cảnh sự thay đổi của xã hội thành xã hội số
Thứ hai: Đào tạo đội ngũ để bắt nhịp với xu thế công nghệ mới
Thứ ba: Các đầu tư hạ tầng phải dựa trên xu thế công nghệ mới
Cuối cùng: Xây dựng văn hóa kỷ luật của tổ chức thích ứng với sự thay đổi nhanh của thời đại

Đối với các công ty CNTT như MISA, trước đây chúng ta xây dựng các giải pháp phần mềm theo đặt hàng từ thực tế các doanh nghiệp. Trong bối cảnh mới của thế giới, khối lượng công việc phát sinh sẽ vô cùng khổng lồ, tạo điều kiện cho việc kinh doanh.
Đây là cơ hội mới cho những công ty CNTT như MISA, không chỉ chờ đặt hàng mà sẽ chủ động đưa ra những đề nghị chuyển đổi thực thể từ thế giới thực sang thế giới số. Quan trọng chúng ta có đủ nhanh nhạy, sự chuẩn bị sẵn sàng để thay đổi hay không.

Từ cổ đến kim, mô hình có thể đáp ứng sự thay đổi nhanh chóng vẫn là tổ chức kiểu quân sự, mọi mệnh lệnh được thực thi nhanh chóng, quyết liệt và mạnh mẽ. Các tổ chức dân sự không phải là quân đội để đạt đến mức tuyệt đối, nhưng chắc chắn các tổ chức, công ty như MISA muốn thay đổi, tồn tại, phát triển được trong thế giới mới thì tính kỷ luật của đội ngũ phải đặt lên hàng đầu. Làm bất cứ điều gì cũng phải quyết liệt, nhanh chóng. Từng cá thể, từng con người trong tổ chức, đội ngũ đều cần thống nhất tinh thần đó. Chỉ có kỷ luật mới tạo ra được đội ngũ như vậy. Mặc dù sẽ khắc nghiệt hơn nhưng tôi tin chắc khi đó chúng ta sẽ có năng suất tốt hơn, có cơ hội nâng cao đời sống cá nhân, tập thể và xã hội.

Người nông thôn nhìn lên thành phố thấy người thành phố sống kỷ luật hơn, quy củ hơn, nên năng suất cao hơn, đời sống tốt hơn. Nhưng từ thành phố của các nước đang phát triển như Việt Nam nhìn sang thành phố của các nước phát triển đều thấy người Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ sống kỷ luật hơn, thay đổi nhanh chóng, chịu khó học hành hơn, năng suất cao hơn nên đời sống tốt hơn mình nhiều lần. Vậy trước câu hỏi: Việc tổ chức một đội ngũ công ty có kỷ luật, tiến tới năng suất cao là điều khắc nghiệt, xấu xa hay tốt đẹp?

Tôi khẳng định, chắc chắn sẽ mang lại điều tốt đẹp cho mỗi cá nhân, tổ chức và xã hội. Trong thế giới mới đầy rẫy cơ hội này, việc chúng ta có tiếp nhận cơ hội để phát triển hay không tùy thuộc vào việc chúng ta có kỷ luật để học hỏi, để thay đổi nhanh và mạnh đến cỡ nào.
Phóng viên: Xin cảm ơn những chia sẻ của ông. Kính chúc ông có thật nhiều sức khỏe, sự thông tuệ để dẫn dắt đội ngũ MISA tiến tới kỷ nguyên của cuộc cách mạng công nghiệp mới với đầy những thách thức nhưng không thiếu cơ hội chinh phục thành công./.

 

Từ Nga (thực hiện). Theo http://www.misa.com.vn/

Cập nhật ngày
 
Thanh niên cần chuẩn bị gì để bước vào sân chơi quốc tế PDF. In bài viết Email
Tác giả: Theo Báo Hà Nội Mới   

Trong những năm qua, với sự năng động, sáng tạo, nhiệt huyết, nhanh nhạy của mình, thanh niên đã đi đầu trong nhiều lĩnh vực, đóng góp quan trọng vào thành tựu chung của đất nước. Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, bên cạnh cơ hội là vô vàn khó khăn, thách thức, đòi hỏi mỗi thanh niên phải chủ động trang bị kiến thức, kỹ năng… để tự tin bước vào "sân chơi" quốc tế.

Đam mê, kiên trì vượt khó

Với lý tưởng, ước mơ làm điều gì đó để thỏa mãn khát vọng hoài bão của bản thân, Trần Đức Minh - doanh nhân trẻ tiêu biểu Thủ đô năm 2015 - đã bỏ dở đại học khi là sinh viên ngành kế toán năm thứ 4 của Học viện Tài chính để làm việc tại một tập đoàn nước ngoài, tích lũy kinh nghiệm. Năm 2008, Minh quyết định thành lập Công ty cổ phần Triệu Sơn (Triso Group) chuyên trồng, sản xuất và phân phối sản phẩm từ dược liệu. Ý tưởng khởi nghiệp của Trần Đức Minh được hình thành khi thấy nguồn dược liệu quý của nước ta thường chỉ được xuất thô ra nước ngoài với giá rẻ, sau đó lại nhập thành phẩm với giá cao, để đáp ứng nhu cầu trong nước. Trần Đức Minh đã hợp tác với các nhà khoa học, liên kết với các nông trường, nhà máy phát triển nguồn dược liệu và sản xuất các dòng sản phẩm chăm sóc sức khỏe, làm đẹp. Đến nay, sản phẩm của công ty đã có mặt tại hơn 30 quốc gia trên thế giới, trong đó có những thị trường khó tính như: Mỹ, Hàn Quốc, Nhật bản... Chia sẻ về thành công, Trần Đức Minh cho rằng, cùng với ý tưởng, muốn khởi nghiệp thành công trong thời kỳ hội nhập phải có lòng quyết tâm sẵn sàng đương đầu trước thử thách trên nền tảng kinh nghiệm, kiến thức.

Cập nhật ngày
Đọc thêm...
 
Tiếng Anh - Chìa khóa giúp thanh niên hội nhập PDF. In bài viết Email
Tác giả: BBT tổng hợp   

Hiện nay ngoài bằng cấp và kinh nghiệm thì tiếng Anh đã trở thành tiêu chí tuyển dụng của một số doanh nghiệp dành cho ứng viên, ngoài ra cho dù không bắt buộc thì cũng có sự ưu tiên nhất định dành cho những ứng viên có vốn tiếng Anh tốt hơn so với những người còn lại. Nhưng tại sao nhà tuyển dụng lại đòi hỏi tiếng Anh, và tiếng Anh có tầm quan trọng như thế nào đối với quá trình xin việc của bạn?

 

Xu thế hội nhập của doanh nghiệp trong nước

Ngày nay với xu thế hội nhập, thì việc làm ăn buôn bán không chỉ gói gọn trong nước, mà còn có sự hợp tác với rất nhiều nước khác nhau trên thế giới. Trong đó tiếng Anh dường như là ngôn ngữ trung gian phổ biến và được ưa chuộng nhất để các quốc gia giao tiếp với nhau, vì vậy việc một doanh nghiệp đòi hỏi ứng viên có vốn tiếng Anh cũng là điều dễ hiểu. Đây chính là chìa khóa quan trọng để giao tiếp với thế giới bên ngoài, và nếu bạn có vốn tiếng Anh tốt thì bạn sẽ là một trong những chiếc “chìa khóa” quan trọng ấy.

 

Sự có mặt của những công ty nước ngoài

Hiện nay song song với các doanh nghiệp trong nước, thì Việt Nam còn có sự hiện diện của các công ty quốc tế, kéo theo đó là những nhà lãnh đạo, những nhân viên trụ cột người nước ngoài. Vì vậy nếu bạn không có vốn tiếng Anh thì khó lòng mà làm việc được trong một môi trường mang tính chuyên nghiệp cao như vậy. Bất đồng ngôn ngữ chính là nguyên nhân khiến bạn không thể tồn tại trong môi trường này.

 

Phỏng vấn bằng tiếng Anh

Làm việc trong những công ty quốc tế là mơ ước của rất nhiều bạn trẻ, vừa có mức lương hấp dẫn, lại vừa có tính chuyên nghiệp cao. Nhưng nếu bạn không có tiếng Anh mà người phỏng vấn bạn là một người nước ngoài thì sẽ ra sao? chắc chắn là bị loại ngay từ vòng phỏng vấn, hoặc cũng có thể không bao giờ bạn được gọi phỏng vấn vì CV không đạt yêu cầu như nhà tuyển dụng đã đề ra.

 

Có thể trở thành bạn của Sếp

Có rất nhiều người với vốn tiếng Anh tốt đã trở thành “cơ quan ngôn luận” của sếp mình, vì vậy mọi ý kiến họ truyền đạt lại cũng trở nên vô cùng quan trọng. Và với vốn tiếng Anh lưu loát ấy họ đã giúp sếp của mình hiểu hơn về đất nước và con người Việt Nam, ngược lại họ cũng học hỏi được rất nhiều điều bổ ích từ người sếp của mình, từ đó khoảng cách giữa nhân viên và sếp ngày càng được rút ngắn, vượt qua khoảng cách về ngôn ngữ màu da, địa vị… họ đã trở thành những người bạn thân thiết và đáng tin cậy của nhau. Và dĩ nhiên công việc của họ cũng sẽ ngày càng thuận lợi vì mối quan hệ tốt đẹp này.

 

Trở nên chuyên nghiệp hơn

Ngày nay rất nhiều phần mềm tin học, các thiết bị máy móc…đều được lập trình chủ yêu bằng tiếng Anh, vì vậy nếu muốn trở thành một người có năng lực, một nhân viên chuyên nghiệp thì không còn cách nào khác bạn phải trang bị cho mình hành trang tiếng Anh vững chắc, đây cũng là một yếu tố quyết định sự thành công trong quá trình xin việc cũng như trong quá trình làm việc lâu dài của bạn về sau.

 

Tự tin trước nhà tuyển dụng

Đa phần những người có vốn tiếng Anh tốt họ rất tự tin trong công việc và cuộc sống, thật vậy để có kết quả tốt trong quá trình học tiếng Anh đòi hỏi phải có sự năng động, phải thường xuyên giao tiếp thì mới mong vốn ngoại ngữ của mình khá lên được. Vì vậy những người sử dụng tiếng Anh lưu loát hiển nhiên trở thành những người rất tự tin và năng động, đây chính là một điểm cộng rất lớn mà nhà tuyển dụng dành cho bạn.

 

Học tiếng anh như thế nào là tốt nhất?

Hiện nay đa phần các trường đạo tạo ở Việt Nam đều có kèm theo môn tiếng Anh như là một tín chỉ bắt buộc học sinh, sinh viên phải hoàn thành. Bên cạnh đó còn có rất nhiều trung tâm dạy tiếng Anh bên ngoài, vì vậy vấn đề không phải là học ở đâu mà vấn đề là học như thế nào để mang lại hiệu quả tốt nhất. Trong quá trình học bạn không nên quá chú trọng vào lý thuyết mà xem nhẹ phần thực hành, thực hành giao tiếp với bên ngoài chính là con đường ngắn nhất để cho vốn tiếng Anh của bạn ngày càng hoàn thiện.

 

Hãy trang bị cho mình vốn tiếng Anh ngay từ bây giờ

Có thế nói tiếng Anh là một hành trang vô cùng quan trọng và cần thiết trong quá trình xin việc, ngoài ra tiếng Anh cũng chính là nhân tố quyết định cho sự thăng tiến của bạn về sau. Vì vậy nếu như bạn chưa từng học, hoặc tiếng Anh của bạn còn hạn chế thì hãy trang bị cho mình ngay từ bi giờ. Việc học không bao giờ là quá muộn, Nếu biết phấn đấu làm việc và cố gắng học tập thì thành công là trong tầm tay bạn.

 
«Bắt đầuLùi12Tiếp theoCuối»

Trang 1 trong tổng số 2 trang.