Chào mừng các bạn đến với Website Tỉnh đoàn Bến Tre

Chiến dịch “Thanh niên tình nguyện hè” tỉnh Bến Tre năm 2018 - Tuổi trẻ Bến Tre Tiên phong sáng tạo, tình nguyện vì cộng đồng”

Tuổi trẻ Bến Tre hội nhập quốc tế



Tuổi trẻ Bến Tre hội nhập quốc tế
Phát động cuộc thi viết ‘Việt Nam - Quá trình hội nhập quốc tế’ PDF. In bài viết Email
Tác giả: Đức Tài   

Cuộc thi nhằm tuyên truyền các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước về quá trình hội nhập quốc tế; thông tin, tuyên truyền về Cộng đồng ASEAN và 20 năm Việt Nam gia nhập ASEAN, cũng như hoạt động của các nước ASEAN trên mọi lĩnh vực.

Bộ TT&TT vừa tổ chức lễ phát động cuộc thi các tác phẩm báo chí viết với chủ đề "Việt Nam - Quá trình hội nhập quốc tế".

Cuộc thi nhằm tuyên truyền các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước về quá trình hội nhập quốc tế; thông tin, tuyên truyền về Cộng đồng ASEAN và 20 năm Việt Nam gia nhập ASEAN, hoạt động của các nước ASEAN trên mọi lĩnh vực để người dân được tiếp cận toàn diện về 3 trụ cột của Cộng đồng ASEAN bao gồm: Cộng đồng chính trị-an ninh, cộng đồng kinh tế và cộng đồng văn hóa-xã hội.

Đồng thời, nâng cao hiệu quả công tác thông tin tuyên truyền, phổ biến về hội nhập quốc tế, quảng bá hình ảnh đất nước, con người và văn hóa Việt Nam, những thành tựu của công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam đến với nhân dân trong, ngoài nước.

Đối tượng tham gia cuộc thi là tất cả các công dân Việt Nam, tác giả, nhóm tác giả, các cơ quan thông tấn báo chí có các tác phẩm báo chí. Mỗi tác giả được tham dự tối đa 5 tác phẩm.

Tác phẩm dự thi là các tác phẩm báo chí đã được đăng, phát hành theo loại hình báo in, báo điện tử trong khoảng thời gian từ 1/1/2015 đến 31/12/2016.  Thời gian nhận bài dự thi từ ngày 15/10 đến 31/12/2016.

Nội dung các tác phẩm viết về các lĩnh vực hội nhập quốc tế của Việt Nam: Kinh tế, chính trị, quốc phòng, an ninh, văn hóa xã hội, dân tộc, giáo dục và đào tạo, khoa học công nghệ và các lĩnh vực khác.

Giải thưởng gồm 2 giải nhất, 2 giải nhì, 3 giải ba, 10 giải khuyến khích và giải cho các đơn vị có nhiều tác phẩm dự thi. Thời gian công bố và trao giải dự kiến là tháng 3/2017.

Địa chỉ nhận tác phẩm dự thi: Bộ TT&TT (Trung tâm dịch vụ TT&TT) - 18 Nguyễn Du, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.

Nguồn: baochinhphu.vn

Cập nhật ngày
 
Cộng đồng kinh tế ASEAN: Nhiều cơ hội cho lao động Việt Nam PDF. In bài viết Email
Tác giả: Nguồn dangcongsan.vn   

(ĐCSVN) – Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) có hiệu lực từ ngày 31/12/2015 là một bước ngoặt đánh dấu sự hòa nhập toàn diện của các nền kinh tế Đông Nam Á. Đây vừa là cơ hội vừa là thách thức lớn đối với lao động Việt Nam.

Nhân dịp đầu Xuân Bính Thân 2016, Thứ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội Doãn Mậu Diệp đã chia sẻ với phóng viên Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam về những cơ hội, thách thức đối với lao động Việt Nam khi gia nhập Cộng đồng kinh tế ASEAN.

 

Phóng viên (PV): Thưa Thứ trưởng, Cộng đồng kinh tế ASEAN được thành lập sẽ mở ra những cơ hội nào đối với lao động Việt Nam?

Thứ trưởng Doãn Mậu Diệp: Ngày 31/12/2015, toàn khối ASEAN đã hình thành một cộng đồng "thống nhất trong đa dạng", với 3 trụ cột chính là Cộng đồng Chính trị - An ninh (APSC); Cộng đồng Kinh tế (AEC) và Cộng đồng Văn hóa - Xã hội (ASCC).

Cộng đồng kinh tế ASEAN được thành lập giúp thị trường lao động trong khối hoạt động sôi động hơn, thúc đẩy tạo việc làm cho từng quốc gia thành viên. Trong khối này, ba quốc gia có số lao động chiếm tỷ trọng hơn 70% là Indonesia (40%), Philippines (16%) và Việt Nam (15%). Theo dự báo của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì khi tham gia vào thị trường ASEAN, số việc làm của Việt Nam đến năm 2025 có thể tăng lên 14,5%. Điều này có nghĩa, Việt Nam đang có hơn 53 triệu lao động và sẽ có thêm 14,5 triệu lao động khác tìm được việc làm từ nay cho đến năm 2025.

Không thể không nói đến một lợi ích thiết thực nhất của việc ra đời AEC là việc di chuyển tự do của lao động có kỹ năng. Trước mắt, có 8 ngành nghề lao động trong các nước ASEAN được tự do di chuyển thông qua các thỏa thuận công nhận tay nghề tương đương, gồm kế toán, kiến trúc sư, nha sĩ, bác sĩ, kỹ sư, y tá, vận chuyển và nhân viên ngành du lịch. Ngoài ra, nhân lực chất lượng cao (các chuyên gia, thợ lành nghề), trong đó có nhân lực được đào tạo chuyên môn hoặc có trình độ từ đại học trở lên, thông thạo ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh, được di chuyển tự do hơn. Điều đó có lợi cho cả người lao động và doanh nghiệp.

Đối với người lao động, nhờ sự thỏa thuận này, người lao động Việt Nam sẽ có cơ hội học tập và làm việc trong các môi trường chuyên nghiệp phát triển của các nước trong AEC, đồng thời cũng làm thúc đẩy nguồn nhân lực, đặc biệt với giới trẻ, tạo dựng tinh thần tự học tập, nâng cao trình độ tay nghề, và đặc biệt là ngoại ngữ.

Đối với người sử dụng lao động đó chính là khả năng tìm kiếm, tuyển dụng lao động có chất lượng cao từ các nước trong khối, đáp ứng yêu cầu của vị trí làm việc mà họ muốn tuyển khi lao động trong nước không đáp ứng được.

 

PV: Khi tham gia Cộng đồng Kinh tế ASEAN, Việt Nam có những lợi thế nhất định, nhưng chắc cũng sẽ có những hạn chế, những thách thức không nhỏ?

Thứ trưởng Doãn Mậu Diệp: Đúng là khi gia nhập cơ hội rất nhiều nhưng thách thức không phải là ít. Thách thức đầu tiên là tuy lực lượng lao động của nước ta dồi dào nhưng chất lượng và cơ cấu lao động vẫn còn nhiều bất cập so với yêu cầu phát triển và hội nhập. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam đang thiếu lao động có trình độ tay nghề, công nhân kỹ thuật bậc cao. Nếu lấy thang điểm là 10 thì chất lượng nhân lực của Việt Nam chỉ đạt 3,79 điểm, xếp thứ 11/12 nước châu Á tham gia xếp hạng của Ngân hàng Thế giới (trong khi Hàn Quốc đạt 6,91 điểm; Ấn Độ đạt 5,76 điểm; Malaysia đạt 5,59 điểm... Do vậy nên năng suất lao động của Việt Nam thuộc nhóm thấp ở châu Á - Thái Bình Dương (thấp hơn Singapore gần 15 lần, thấp hơn Nhật Bản 11 lần và thấp hơn Hàn Quốc 10 lần). Năng suất lao động của Việt Nam bằng 1/5 Malaysia và 2/5 Thái Lan.

Thứ hai, muốn dịch chuyển lao động thì phải có ngôn ngữ nhưng ngôn ngữ cũng là một điểm hạn chế của lao động Việt Nam. Trên thực tế, trình độ tiếng Anh của lao động Việt Nam còn thấp và rất ít người lao động học ngôn ngữ của các nước ASEAN như Thái Lan, Lào, Campuchia… Người Việt Nam được đánh giá là cần cù, sáng tạo, nhiều sáng kiến nhưng khi bạn không giao tiếp được, không chia sẻ được thì sáng tạo, sáng kiến cũng “ngủ yên”, không đưa được vào thực tiễn đời sống và sản xuất, kinh doanh.

Một thách thức khác là hệ thống thông tin của thị trường lao động Việt Nam hiện nay còn nhiều yếu kém và hạn chế; thị trường lao động hiện tại là thống nhất, không rào cản, nhưng thông tin thị trường lao động dường như bị chia cắt, tổ chức theo từng tỉnh, thiếu chia sẻ trong vùng, miền và cả nước; khả năng bao quát, thu thập và cung ứng thông tin chưa đáp ứng được nhu cầu các đối tác trên thị trường lao động, đặc biệt là người chủ sử dụng lao động và người lao động. Do vậy, chưa đánh giá được hiện trạng của cung - cầu lao động, các “nút thắt” về nhu cầu nguồn nhân lực trong nước.

PV: Hội nhập AEC có nghĩa là trước mắt có 8 ngành nghề được di chuyển, và lâu dài hơn sẽ có nhiều ngành nghề. Nhiều vị trí việc làm của lao động Việt Nam có thể sẽ do  lao động của các nước khác đảm nhận. Vậy giải pháp nào để bảo vệ việc làm lao động Việt Nam?

Thứ trưởng Doãn Mậu Diệp: Để bảo vệ việc làm cho người lao động trong nước cần cả những giải pháp chủ động và các biện pháp kỹ thuật. Giải pháp chủ động là các giải pháp giúp lao động trong nước lấp đầy các vị trí việc làm trước khi lao động nước ngoài tràn vào; giải pháp kỹ thuật là các quy định về điều kiện cấp phép để làm chậm lại việc lao động nước ngoài chiếm lĩnh các vị trí việc làm đó.

Về các giải pháp chủ động, các giải pháp chủ động liên quan đến việc chuẩn bị tốt nhất nguồn nhân lực cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu đáp ứng được yêu cầu của các vị trí cần tuyển, giúp người sử dụng lao động có thể tuyển được lao động trong nước.

Một là, chúng ta đã có Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản giáo dục và đào tạo mà một trong những tư tưởng quan trọng là lấy sự chấp nhận của thị trường lao động làm thước đo hiệu quả của giáo dục và đào tạo. Nhiều giải pháp cụ thể và đồng bộ đã được thể hiện trong Nghị quyết; quan trọng nhất là phải đổi mới cơ chế kế hoạch hóa đào tạo; phải nắm bằng được nhu cầu của thị trường và đấy phải là nền tảng để xây dựng kế hoạch đào tạo.

Hai là, cần tổ chức tốt hơn hệ thống thông tin thị trường lao động, cả thị trường trong nước để giới thiệu và chắp nối việc làm trong nước, giúp người lao động Việt Nam tiếp cận đến các vị trí làm việc trong nước trong thời gian ngắn nhất; phải cung cấp được cả thông tin thị trường lao động ngoài nước để giúp người lao động Việt Nam có cơ hội tiếp cận.

Ba là, hệ thống trung tâm dịch vụ việc làm cũng cần tổ chức lại nhằm tăng cường sự liên kết, chia sẻ thông tin, hỗ trợ nhau trong công tác cung ứng và tuyển dụng lao động cho các doanh nghiệp, hạn chế tình trạng hết thời hạn tuyển dụng, các doanh nghiệp sẽ tuyển dụng lao động nước ngoài.

Bốn là cần nâng cao năng lực của các trung tâm dịch vụ việc làm, ít nhất là ở chỗ đánh giá các yêu cầu của các vị trí cần tuyển, thương lượng với người sử dụng lao động để đảm bảo các yêu cầu đạt ra là thực sự cần thiết, đúng với yêu cầu của vị trí việc làm, hạn chế tình trạng doanh nghiệp đặt yêu cầu quá cao nhằm tuyển dụng lao động nước ngoài.

Năm là phải tăng cường và nâng cao chất lượng dự báo nhu cầu lao động; làm cơ sở cho đổi mới công tác kế hoạch hóa giáo dục và đào tạo, kể cả đào tạo nghề để chuẩn bị nguồn nhân lực được đào tạo, hợp lý cả về số lượng, cơ cấu và kỹ năng, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu của thị trường.

Nói về các giải pháp kỹ thuật thì ở đây là đặt ra các hàng rào kỹ thuật. Nhưng đặt ra các hàng rào kỹ thuật cũng cần đáp ứng cả hai mục tiêu: một là tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư để Việt Nam vẫn là điểm đến hấp dẫn; hai là vẫn phải đạt được mục tiêu bảo vệ việc làm trong nước. Ít nhất có mấy vấn đề đặt ra; đó là: Cấp giấy phép cho lao động nước làm việc tại Việt Nam; Quản lý lao động nước ngoài làm việc lại Việt Nam sau khi được cấp phép, nhất là việc dịch chuyển vị trí và nơi làm việc; các biện pháp kỹ thuật khác, ví dụ chuẩn tiếng Việt tối thiểu để làm việc tại Việt Nam.

PV: Vấn đề trình độ nhân lực như Thứ trưởng đã nói là một điểm yếu của chúng ta khi hội nhập. Vậy để giải quyết những hạn chế về nhân lực cần tập trung thực hiện những giải pháp gì?

Thứ trưởng Doãn Mậu Diệp:
Việt Nam nhận thức rõ tầm quan trọng của AEC, cũng như những cơ hội và thách thức đi kèm. Với quyết tâm không để bỏ qua cơ hội này, Việt Nam đang nỗ lực hết sức để chuẩn bị hội nhập sâu rộng và đảm bảo rằng mọi người đều được hưởng lợi từ quá trình đó.

Để có thể nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh cho lao động Việt Nam, việc đầu tiên là cần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Theo đó, cần tiếp tục công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục theo hướng khả năng thực hành và các kỹ năng nghề nghiệp. Phối hợp đồng bộ các chính sách, đặc biệt là chính sách phát triển nguồn nhân lực, việc làm, giáo dục đào tạo và các chính sách kinh tế. Để làm sao thu hẹp được khoảng cách giữa các kỹ năng được đào tạo trong nhà trường với kỹ năng làm việc tại doanh nghiệp.

Gắn kết giữa dạy nghề với thị trường lao động và sự tham gia của doanh nghiệp, phát triển hệ thống thông tin thị trường lao động. Xây dựng các mối quan hệ chặt chẽ giữa dạy nghề với trị trường lao động, hướng vào việc đáp ứng phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương, từng ngành, đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp.

PV: Nhân dịp năm mới, với những cơ hội và thách thức khi gia nhập Cộng đồng kinh tế ASEAN như đã phân tích ở trên, Thứ trưởng có lời nhắn gửi gì đến người lao động?

Thứ trưởng Doãn Mậu Diệp: Xuân Bính Thân đã đến, trước hết tôi xin gửi lời chúc sức khỏe tới từng nhà, từng người một năm mới nhiều niềm vui, hạnh phúc, sum vầy.

Tôi muốn nhắn gửi đến người lao động rằng khi tham gia AEC, để nắm bắt được cơ hội, trước hết người lao động cần cố gắng có kiến thức kỹ năng theo khung trình độ đòi hỏi, đồng thời cần tự tìm hiểu, trau dồi thêm các kỹ năng. Đặc biệt, người lao động còn cần có ngoại ngữ, rèn luyện kỷ luật, tác phong công nghiệp và các kỹ năng mềm khác để có thể nắm bắt cơ hội tham gia làm việc tại các quốc gia của AEC.

PV: Xin cảm ơn Thứ trưởng! /.

Kim Thanh (thực hiện)
Cập nhật ngày
 
Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương, cơ hội và thách thức-Hành động của chúng ta PDF. In bài viết Email
Tác giả: Nguồn: http://nguyentandung.org/   

Ban Biên tập website trân trọng giới thiệu bài viết “Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương, cơ hội và thách thức-Hành động của chúng ta” của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đến cán bộ, đoàn viên, thanh niên tình nhà để mỗi chúng ta thông hiểu, suy nghĩ và hành động giúp nước nhà tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức phát triển kinh tế nhanh và bền vững.

Ngày 04 tháng 02 năm 2016, Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã được ký kết giữa 12 nước, gồm Australia, Canada, Brunei, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore, Hoa Kỳ và Việt Nam, có quy mô kinh tế chiếm 40% GDP và 30% thương mại toàn cầu. Đây là một Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới – được kỳ vọng trở thành hình mẫu cho phát triển thương mại khu vực và thế giới với yêu cầu cao hơn trong bối cảnh lực lượng sản xuất phát triển rất nhanh và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

Việc nước ta ký Hiệp định TPP không chỉ là kết quả của quá trình 5 năm kiên trì đàm phán với tinh thần vừa hợp tác vừa đấu tranh, lấy lợi ích quốc gia dân tộc làm mục tiêu cao nhất. Sâu xa hơn, đây là thành quả của tiến trình 30 năm đổi mới, trong đó hội nhập kinh tế quốc tế là một nội dung quan trọng, ngày càng được khẳng định mạnh mẽ và kiến giải sâu sắc qua các Nghị quyết của Đảng. Đây còn là những trải nghiệm rút ra từ thực tiễn hội nhập của nước ta sau khi ký kết và thực thi Hiệp định Thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ, tham gia Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN, các Hiệp định thương mại tự do giữa ASEAN với các đối tác và gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)… Hội nhập kinh tế quốc tế còn là một nội hàm quan trọng trong thể chế kinh tế thị trường hiện đại định hướng xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng.

I

Thực hiện chủ trương tích cực và chủ động hội nhập quốc tế, trong các nhiệm kỳ Đại hội X và XI, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã chấp thuận đề nghị của Chính phủ về đàm phán tham gia một số Hiệp định Thương mại tự do mới. Đây là những Hiệp định có mức độ cam kết mở cửa thị trường cao hơn cam kết trong WTO và các Hiệp định thương mại tự do (FTA) đã ký trước đây. Đặc biệt, TPP và FTA với EU là những Hiệp định toàn diện, cân bằng lợi ích, với những cam kết mở cửa thị trường sâu rộng cả về thương mại hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở mức cao và những cam kết về thể chế kinh tế thị trường, doanh nghiệp nhà nước, mua sắm công… nhằm tạo ra một môi trường kinh doanh minh bạch và cạnh tranh công bằng. Các Hiệp định này còn bao gồm các nội dung tuy không phải là thương mại trực tiếp nhưng có liên quan đến thương mại như môi trường và lao động. Với những nội hàm chủ yếu nêu trên, TPP cùng với FTA Việt Nam-EU được gọi là Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.

TPP là Hiệp định tiếp cận thị trường toàn diện, bảo đảm sự dịch chuyển tự do ở mức độ cao hơn của hàng hóa, dịch vụ, vốn và công nghệ thông qua việc cam kết loại bỏ nhanh thuế xuất khẩu, nhập khẩu và rào cản phi quan thuế; tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng, không phân biệt đối xử; tạo thuận lợi cho thương mại và đầu tư, qua đó đem lại lợi ích nhiều hơn cho sản xuất kinh doanh, người lao động cũng như người tiêu dùng.

TPP sẽ thúc đẩy hình thành mạng sản xuất và chuỗi cung ứng mới trong thị trường 12 nước thành viên; tạo điều kiện để phát triển mạnh thương mại nội khối; nâng cao hiệu quả kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng, hỗ trợ mục tiêu tạo việc làm, tăng thu nhập và cải thiện đời sống của người dân; góp phần giải quyết những thách thức trong nền kinh tế đương đại, khuyến khích đổi mới, sáng tạo, phát triển nền kinh tế số, xây dựng chính sách cạnh tranh và quy tắc hoạt động của doanh nghiệp nhà nước cũng như bảo vệ các quyền cơ bản của người lao động và bảo vệ môi trường. Hiệp định còn có các quy định bảo đảm cơ hội để các nền kinh tế thành viên có trình độ phát triển khác nhau và doanh nghiệp thuộc mọi quy mô đều có thể được hưởng lợi; giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa vượt qua thách thức, tận dụng cơ hội để phát triển. TPP cũng bao gồm các cam kết về hỗ trợ kỹ thuật, nâng cao năng lực và có sự linh hoạt về lộ trình thực thi, phù hợp với sự khác biệt về trình độ phát triển để các bên có khả năng đáp ứng cam kết và tận dụng đầy đủ lợi ích của Hiệp định. Đồng thời, quy định cơ chế giám sát thực thi và chế tài xử lý các vi phạm.

TPP tôn trọng thể chế chính trị của mỗi nước; thừa nhận yêu cầu phải tuân thủ đầy đủ pháp luật quốc gia, phù hợp với các cam kết quốc tế và không bao gồm các nội dung liên quan đến quốc phòng, an ninh. Hiệp định cũng được kỳ vọng là tạo ra một nền tảng mới cho hội nhập kinh tế khu vực và tạo cơ hội cho các quốc gia khác trên vành đai châu Á-Thái Bình Dương tham gia.

Trong điều kiện trình độ phát triển của nền kinh tế còn thấp và còn nhiều khó khăn, việc chủ động quyết định tham gia các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, đặc biệt là TPP với tinh thần sẵn sàng chấp nhận cạnh tranh, nỗ lực vượt qua thách thức, tranh thủ cơ hội để vươn lên phát triển nhanh và bền vững, thể hiện bản lĩnh chính trị, tư duy sắc bén và tầm nhìn thời đại của Đảng và Nhà nước ta. Đây còn là sự khẳng định niềm tin vào ý chí, khả năng và sức mạnh của con người Việt Nam, của dân tộc Việt Nam.

II

TPP cùng FTA với EU sẽ mang lại nhiều cơ hội thuận lợi nhưng cũng đặt ra không ít khó khăn thách thức đối với nước ta.

Các Hiệp định này sẽ tạo thêm xung lực mới cho phát triển kinh tế-xã hội, đặc biệt là trong thu hút đầu tư và thúc đẩy xuất khẩu với các nền kinh tế lớn nhất thế giới, trong đó EU gồm 28 thành viên với GDP trên 18 nghìn tỷ USD và TPP hiện có 12 thành viên với GDP trên 20 nghìn tỷ USD. Đây là những khu vực có công nghệ nguồn, thị trường xuất khẩu và thu hút đầu tư lớn nhất của Việt Nam liên tục trong nhiều năm qua. Nếu tính đến tác động cộng hưởng của các Hiệp định này với các FTA đã ký hoặc đang đàm phán, cơ hội còn lớn hơn nhiều vì nước ta sẽ có quan hệ thương mại tự do với 55 quốc gia, trong đó có 15 nước thuộc nhóm G20.

Xuất khẩu và đầu tư có vai trò quyết định cho tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, nâng cao đời sống dân cư, nhất là trong điều kiện thu nhập bình quân đầu người và tiêu dùng nội địa của nước ta còn thấp. Tăng tỷ trọng xuất nhập khẩu với các thị trường này cũng làm cho quan hệ thương mại với các nước cân bằng hơn. Những cam kết trong các Hiệp định là những khung khổ, chuẩn mực để góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường hiện đại và thúc đẩy tiến trình tái cơ cấu, chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Tham gia các Hiệp định này còn là một bước tiến mới trong thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, nhất là tại một khu vực đang diễn ra cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt.

Cùng với những cơ hội thuận lợi, các Hiệp định này cũng đặt ra những khó khăn thách thức không nhỏ. Đó là, cạnh tranh sẽ diễn ra quyết liệt không chỉ ở thị trường các nước tham gia Hiệp định mà ngay tại thị trường trong nước trên cả ba cấp độ: sản phẩm, doanh nghiệp và quốc gia – đặc biệt là cạnh tranh về chất lượng thể chế và môi trường kinh doanh. Trước sức ép cạnh tranh, một số doanh nghiệp sau thời gian chuyển đổi, tái cơ cấu nếu không vươn lên được có thể phải giải thể hoặc phá sản, một bộ phận người lao động sẽ mất việc làm; khu vực nông nghiệp và nông dân dễ bị tổn thương; khoảng cách giàu nghèo sẽ bị doãng ra nếu chúng ta không thực hiện hiệu quả chiến lược phát triển nhanh, bền vững và bảo đảm cho mọi người dân đều được hưởng thành quả của tăng trưởng. Thách thức về thực thi cũng rất lớn, từ hoàn thiện hệ thống pháp luật đến đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao năng lực cán bộ, công chức, chuyên gia kỹ thuật và pháp lý. Nội dung về lao động-công đoàn cũng đặt ra những thách thức và yêu cầu mới trong hoạt động của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và cả hệ thống chính trị của nước ta.

Cần nhận thức sâu sắc rằng, cơ hội thuận lợi tự nó không chuyển thành sức mạnh kinh tế, lợi ích và khả năng cạnh tranh trên thị trường mà phải thông qua sự nỗ lực và hiệu quả hoạt động hướng đích của các chủ thể – Nhà nước, người dân và doanh nghiệp. Khó khăn thách thức sẽ là sức ép không nhỏ nhưng mức độ ảnh hưởng đến đâu phụ thuộc vào năng lực ứng phó của từng chủ thể. Nếu tận dụng tốt cơ hội thuận lợi sẽ đẩy lùi được khó khăn thách thức, tạo ra cơ hội thuận lợi mới lớn hơn; ngược lại, khó khăn thách thức sẽ lấn át, chúng ta sẽ bị thua thiệt và rất khó khắc phục. Điều cần nhấn mạnh là, trong các Hiệp định thương mại tự do, cơ hội luôn đi liền với thách thức và trong thách thức luôn ẩn chứa cơ hội – đây cũng là biện chứng của tiến trình phát triển.

III

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, với việc hình thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN, tham gia các Hiệp định FTA mới, nhất là các Hiệp định thế hệ mới – TPP và FTA với EU; và trong điều kiện công nghệ thông tin, Internet phát triển bùng nổ, các giao dịch xuyên biên giới ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong thương mại, dịch vụ toàn cầu; cùng với những tiến bộ trong vận tải đa phương thức và dịch vụ logistics, ranh giới giữa thị trường trong nước và thị trường nước ngoài gần như bị san phẳng. Hệ quả là, các mô hình công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu hoặc hướng về xuất khẩu không còn nguyên ý nghĩa kinh điển của nó. Nhiều quốc gia chuyển sang mô hình công nghiệp hóa dựa trên sức cạnh tranh, khai thác và tạo lập lợi thế so sánh, chuyển lợi thế so sánh thành lợi thế cạnh tranh, tham gia vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu; đồng thời phấn đấu chiếm lĩnh các công đoạn có giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị đó.

Để tận dụng cơ hội thuận lợi, vượt qua khó khăn thách thức, yêu cầu cấp bách hiện nay là phải nâng cao năng lực cạnh tranh của cả nền kinh tế. Trong đó, cần xác định rõ vai trò và hành động của các chủ thể trong thực thi nhiệm vụ có ý nghĩa quyết định này.

Doanh nghiệp là chủ thể quyết định sức cạnh tranh vi mô, phản ảnh sức mạnh và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế. Doanh nghiệp phải dũng cảm chấp nhận cạnh tranh và phải chủ động, sáng tạo thực hiện đồng bộ, quyết liệt các giải pháp để không ngừng nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ do mình cung ứng, với tư duy không chỉ giới hạn tại thị trường trong nước mà còn vươn ra khu vực và thế giới. Tuy vậy, doanh nghiệp không thể tự mình quyết định được tất cả. Doanh nghiệp phải hành động trong khung khổ thể chế và môi trường kinh doanh xác định. Điều này lại hoàn toàn phụ thuộc vào Nhà nước.

Nhiều nghiên cứu và từ thực tiễn các nước đều khẳng định rằng, thể chế quản trị quốc gia là yếu tố quyết định nhất đến sức cạnh tranh vĩ mô và sự phát triển của một nền kinh tế. Phát triển nhanh và bền vững hay trì trệ, tụt hậu chủ yếu là do chất lượng thể chế. Thể chế tốt, bảo đảm nhà nước pháp quyền, quyền dân chủ của người dân và phù hợp với kinh tế thị trường hiện đại sẽ khơi dậy được cao nhất sức mạnh tổng hợp và các nguồn lực cho sự phát triển. Và như vậy, thể chế có vai trò quyết định đến hiệu quả và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.

Để có một thể chế tốt, chất lượng cao, phải xác định đúng đắn mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường, doanh nghiệp và xã hội. Nhà nước phải thực hiện tốt chức năng kiến tạo phát triển, nhất là ổn định kinh tế vĩ mô; xây dựng hệ thống pháp luật, chính sách, chiến lược, quy hoạch và tổ chức bộ máy quản lý để tạo môi trường kinh doanh thông thoáng, minh bạch, bảo đảm quyền tự do kinh doanh và cạnh tranh công bằng; sử dụng nguồn lực của Nhà nước, các chính sách và công cụ điều tiết để phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao phúc lợi xã hội và đời sống người dân; bảo vệ môi trường; bảo đảm các dịch vụ công thiết yếu, phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội, đào tạo nguồn nhân lực và tăng cường tiềm lực quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Thị trường quyết định việc huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả nguồn lực. Doanh nghiệp được tự quyết định kinh doanh trên các lĩnh vực mà luật pháp không cấm đồng thời phải đề cao trách nhiệm xã hội và văn hóa kinh doanh. Xã hội – thông qua người dân và các Tổ chức, các Hội nghề nghiệp đại diện cho mình và các chuyên gia, các nhà nghiên cứu độc lập để đóng góp xây dựng, phản biện và giám sát thực thi chính sách, nhằm hạn chế các khiếm khuyết của thị trường và Nhà nước.

Trên cơ sở nhận thức đúng đắn các mối quan hệ trên đây, chúng ta phải khẩn trương tiếp tục hoàn thiện thể chế, hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu của kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế và cam kết trong các Hiệp định FTA, nhất là các FTA thế hệ mới với tinh thần đổi mới toàn diện, đồng bộ cả kinh tế và chính trị. Tập trung mọi nỗ lực xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân và thượng tôn pháp luật. Công dân được làm những gì mà pháp luật không cấm. Cán bộ công chức chỉ được làm và phải làm những việc theo quy định của pháp luật.

Tiếp tục cải cách bảo đảm sự tương thích, đồng bộ giữa luật pháp, tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ công chức. Tổ chức trùng lắp, chồng chéo sẽ gây lãng phí nguồn lực và cản trở sự phát triển. Phải dám chấp nhận đổi mới, vượt qua sức ỳ, sự bảo thủ để hoàn thiện hệ thống tổ chức lãnh đạo quản lý, nâng cao năng lực quản trị quốc gia, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn phát triển mới.

Đặt việc cải thiện môi trường kinh doanh trong yêu cầu cải cách thể chế. Thể chế tạo ra khung khổ, định ra giới hạn cho cải thiện môi trường kinh doanh. Không thể có môi trường kinh doanh tốt nếu không có thể chế phù hợp. Những tiến bộ trong cải cách thể chế phải được chuyển hóa đầy đủ sang cải thiện môi trường kinh doanh. Điều này không chỉ liên quan đến tổ chức bộ máy mà còn gắn chặt với chất lượng đội ngũ cán bộ công chức. Phải tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ công chức có phẩm chất và năng lực, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Đặc biệt quan tâm đào tạo một đội ngũ cán bộ pháp lý, các nhà quản trị doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu hội nhập, cạnh tranh và phát triển.

Chỉ trên nền tảng đổi mới thể chế quản trị quốc gia phù hợp mới có thể nâng cao chất lượng, hiệu quả của tiến trình tái cơ cấu, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, đẩy nhanh áp dụng khoa học công nghệ, tăng năng suất lao động, nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp và của cả nền kinh tế. Cũng chỉ trên cơ sở đổi mới thể chế phù hợp mới tạo điều kiện cho quá trình tích tụ, tập trung ruộng đất, hình thành những vùng sản xuất hàng hóa lớn và một nền nông nghiệp sạch, có giá trị gia tăng cao, ổn định nguồn cung để có thể tăng nhanh thị phần trên thị trường thế giới. Nếu không, sẽ không tận dụng được cơ hội thuận lợi do TPP, FTA với EU và các FTA mới mang lại.

TPP cũng như FTA với EU yêu cầu doanh nghiệp nhà nước phải công khai, minh bạch hoạt động và cạnh tranh công bằng với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác. Phải đẩy nhanh tiến trình tái cơ cấu, nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước đồng thời khuyến khích phát triển mạnh doanh nghiệp Việt Nam, nhất là doanh nghiệp tư nhân làm động lực nâng cao sức cạnh tranh và tính tự chủ của nền kinh tế.

Để bảo đảm thành công trong hội nhập quốc tế và thực hiện hiệu quả các FTA, đặc biệt là TPP và FTA Việt Nam – EU, trước hết phải có Nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Chương trình hành động cụ thể của Chính phủ, các cấp các ngành và của cộng đồng doanh nghiệp.  Phải làm tốt công tác thông tin truyền thông, tạo sự đồng thuận trong nhận thức, thống nhất trong hành động, nỗ lực nâng cao năng lực cạnh tranh, đưa nền kinh tế nước ta phát triển nhanh và bền vững.

Chúng ta đang sống trong một thời đại vận động và phát triển rất nhanh, thế giới đang bước vào làn sóng công nghiệp lần thứ tư, tiến trình công nghiệp hóa ngày càng được rút ngắn. Nếu có quyết tâm cao và ý chí vươn lên mạnh mẽ, tinh thần sáng tạo và chiến lược tăng trưởng đúng đắn, nước đi sau có thể đuổi kịp và vượt quốc gia đã có trình độ phát triển cao hơn và những doanh nghiệp mới, quy mô nhỏ có thể nhanh chóng trở thành những doanh nghiệp lớn.

Tham gia các Hiệp định này, Việt Nam còn có thêm cơ hội nâng cao hiệu quả kinh tế nhờ tăng quy mô, tạo điều kiện hình thành những doanh nghiệp lớn đồng thời với xu thế cá thể hóa doanh nghiệp. Đây cũng là cơ hội để nuôi dưỡng tinh thần đổi mới, sáng tạo, khuyến khích phong trào khởi nghiệp của mọi người dân và nâng tầm trình độ phát triển của nền kinh tế.

Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cộng đồng doanh nghiệp chúng ta hãy nêu cao niềm tự hào dân tộc, chung sức đồng lòng, chủ động khai thác và phát huy tốt nhất cơ hội thuận lợi, nỗ lực vượt qua khó khăn thách thức trong hội nhập, tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, tiến cùng thời đại, sánh vai với các cường quốc năm châu như Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu hằng mong muốn./.

Nguyễn Tấn Dũng
Thủ tướng Chính phủ

 
TPP – Thách thức cũng chính là cơ hội PDF. In bài viết Email
Tác giả: BBT sưu tầm   

Trước sự kiện Hiệp định TPP chính thức được ký kết hôm 04/02/2016, nhiều nhận định trái chiều đã được đưa ra. Có người bảo TPP sẽ là cơ hội cho kinh tế VN “cất cánh”, nhưng cũng không ít ý kiến cho rằng với một nước có nền kinh tế thấp kém như Việt Nam thì hội nhập quốc tế, đặc biệt là gia nhập TPP, sẽ đem lại rất nhiều thách thức. Nhưng với tôi, những thách thức đó cũng chính là cơ hội.

Cơ hội chỉ phát huy hiệu quả khi chúng ta biết nắm bắt, nhận thức một cách đúng đắn và đầy đủ các thách thức đi kèm với nó. Nếu vượt được qua những thách thức để thay đổi và tái cấu trúc, TPP sẽ là cơ hội để Việt Nam bứt phá.

Khó khăn chắc chắn rất lớn, Việt Nam sẽ bị cạnh tranh gay gắt cả thị trường ngoài và ngay trên sân nhà. Việc đáp ứng tiêu chuẩn về xuất xứ hay môi trường, lao động cũng là thách thức lớn. Nhưng chính những khó khăn này lại trở thành cơ hội để các doanh nghiệp Việt Nam chấn chỉnh lại lề lối kinh doanh đang manh mún như hiện nay.

Việc giảm thu ngân sách từ thuế nhập khẩu sau khi thực hiện TPP sẽ được bù đắp bằng nguồn khác, như thuế giá trị gia tăng và thuế tiêu thụ đặc biệt và theo thời gian, việc giảm thuế sẽ được bù đắp bằng việc mở rộng đối tượng nộp thuế và công tác thu tốt hơn.

 

Sự cạnh tranh khốc liệt giữa hàng nội địa và ngoại nhập khiến thị phần hàng “made in Vietnam” chịu ảnh hưởng và dễ bị tổn thương trong hội nhập, đặc biệt nguy hiểm đối với nhóm hàng nông sản vốn gắn liền với người nông dân. Chúng ta tự hào gì khi Việt Nam chưa có được vài sản phẩm nổi tiếng cho riêng mình. Người Nhật có Toyota, Hàn Quốc có SamSung, Mỹ có Apple, thậm chí nước láng giềng Campuchia có gạo, còn Việt Nam có gì trên thương trường quốc tế?

Chúng ta chỉ có những mặt hàng nông – lâm – thủy – hải sản với sự quay lưng ít nhiều của ngươi tiêu dùng do lo sợ hóa chất độc hại. Là một quốc gia xuất cảng gạo hàng đầu thế giới thế nhưng người nông dân vẫn nghèo. Tại Mỹ, người Việt đa phần ăn gạo Thái, thậm chí chai nước mắm nhỏ bé cũng không phải “made in Việt Nam”. Nếu chúng ta có chính sách hỗ trợ tốt hơn để người nông dân tăng năng suất, chú trọng vào chất lượng hơn và học hỏi nhiều hơn từ các nước phát triển. Nước mắm, thanh long, cá, tôm, hàng may mặc… của Việt Nam được đầu tư về thương hiệu tốt hơn.

Nhưng điều chúng ta cần lo lắng nhất chính là sự thích nghi của doanh nghiệp Việt Nam, khi chủ yếu 600.000 doanh nghiệp vẫn ở quy mô nhỏ và vừa sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt từ các tập đoàn/công ty nước ngoài có năng lực cao hơn. Nguy cơ bị thôn tính rất cao nếu không tự mình thay đổi. Thế nhưng, từ trong thách thức, chỉ có cạnh tranh thì các doanh nghiệp của ta mới tích lũy dày dặn về kiến thức, kinh nghiệm quản lý và thích nghi nhanh chóng với sự thay đổi. Khi đó Việt Nam sẽ loại bỏ được các doanh nghiệp yếu kém, tập trung vốn và lao động để hình thành những doanh nghiệp “đầu tàu” có sức cạnh tranh với các doanh nghiệp quốc tế trong bối cảnh hội nhập.

Thách thức này chính là động cơ thúc đẩy mạnh mẽ tái cơ cấu nền kinh tế, đặc biệt là tái cơ cấu doanh nghiệp một cách toàn diện để nâng cao năng lực cạnh canh, nâng cao hiệu quả hoạt động để có thể tồn tại và phát triển.

Về thị trường lao động, nhân công năng suất thấp sẽ khiến nền kinh tế Việt Nam khó cạnh tranh khi luồng nhân lực có chất lượng cao tự do di chuyển hơn và trở thành thách thức mới, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp. Nhưng cũng chính thách thức này sẽ giúp chúng ta tái cơ cấu lao động, chuyển nguồn lao động nông nghiệp đang dư thừa trở thành lượng công nhân, và đất đai manh mún nhỏ lẻ sẽ được tập trung thành các cánh đồng mẫu lớn, thuận lợi hơn cho áp dụng kỹ thuật cao.

Không những thế, các yêu cầu cao về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cũng trở thành áp lực lớn khi các cơ chế bảo hộ của Việt Nam còn thiếu hiệu quả. Tình trạng vi phạm sở hữu trí tuệ vẫn là thách thức lớn khi vấn nạn sao chép, ăn cắp bản quyền vẫn diễn ra tràn lan tại Việt Nam, từ những bộ phim mới nhất cho đến phần mềm vi tính. Yêu cầu bảo hộ chặt chẽ quyền sở hữu trí tuệ khiến doanh nghiệp phải bỏ vốn nhiều hơn mua sản phẩm công nghệ và người tiêu dùng trả giá đắt đỏ hơn. Nhưng chính điều này là động lực mạnh mẽ để các phát minh, sáng kiến công nghệ của Việt Nam được phát triển.

Việc tham gia Hiệp định TPP cũng vậy, không có chuyện khi Việt Nam gia nhập để hưởng chính sách thuế bằng không mà không có chiều ngược lại, mà đối thủ của các doanh nghiệp Việt Nam lại toàn là những đối thủ nặng ký.

Khi Việt Nam đã gia nhập tức là những chiếc xe hơi có xuất xứ từ Mỹ, Nhật sẽ không còn phải chịu thuế suất cao ngất như hiện nay, dĩ nhiên đó là điều có lợi cho người tiêu dùng Việt Nam. Nhưng hệ quả kéo theo sẽ là vấn nạn kẹt xe – xe hơi, xe máy chen chúc, giành giật từng mét đường, hệ thống giao thông nhỏ bé và chưa hoàn thiện của Việt Nam sẽ mau chóng xuống cấp nếu không đầu tư mở rộng.

Về những sản phẩm công nghiệp thì Mỹ, với ưu thế là vương quốc của bánh kẹo, những sản phẩm “made in USA” sẽ tràn vào Việt Nam từ thành phố đến làng quê, mặt hàng sữa có mặt tại Việt Nam với giá rẻ bèo sẽ kéo theo sự cạnh tranh khốc liệt với Vinamilk, TH True Milk và tất cả những công ty nào có sản phẩm tương đương.

Đối với các cơ quan chức năng nhà nước thì họ không còn ung dung được nữa, lượng cán bộ“sáng cắp ô đi, chiều cắp ô về” sẽ phải khẩn trương bắt tay triển khai TPP. Rà soát nội dung Hiệp định, phải song hành với rà soát các thách thức và xây dựng chính sách, pháp luật. Từ đó thay đổi lề lối làm việc hành chính hiện nay ở các cơ quan nhà nước, giúp cơ quan công quyền giảm quan liêu, tham nhũng, hướng đến phục vụ nhân dân hơn.

Bên cạnh đó, hệ thống thông tin viễn thông toàn cầu đang phát triển nhanh chính là một quyền lực thứ 4 đã và đang gây ra tác động tiêu cực trực tiếp đến an ninh, kinh tế, văn hoá, xã hội Việt Nam. Sau khi gia nhập TPP thì vấn đề kiểm soát thông tin, truyền thông như thế nào để không từ bỏ lợi ích khai thác mà vẫn hạn chế tối đa nguy cơ gây thiệt hại xảy ra sẽ gây đau đầu không ít cho các cơ quan chức năng.

Trong quan hệ kinh tế đối ngoại, chủ yếu với các quốc gia có tiềm lực mạnh, có thể chứa đựng những yếu tố tiêu cực. Các nước mong muốn kìm hãm, thậm chí gây sức ép buộc Việt Nam phải thay đổi định hướng, mục đích phát triển. Nhưng đây cũng là yếu tố để xây dựng bản lĩnh và thay đổi theo hướng có lợi cho quốc gia, dân tộc.

Tích cực chủ động đưa đất nước gia nhập TPP, khai thác triệt để lợi thế, chấp nhận những thách thức, biến chúng thành những cơ hội thể hiện hiện tầm nhìn xa, trông rộng của các nhà lãnh đạo Việt Nam, đặc biệt là Thủ tướng được phản ánh rõ trong những hành động cụ thể và trong bài viết của ông.

Thủ tướng đã chỉ ra hai vấn đề lớn của chúng ta hiện nay là:

1. Khẩn trương cải cách thể chế, vì thể chế là nhân tố quyết định nhất của sự phát triển bền vững của đất nước, cũng là nhân tố quyết định sức cạnh tranh của doanh nghiệp và sự lớn mạnh của doanh nhân khi vào TPP.

TPP cũng đòi hỏi nước ta cải cách thể chế để thực hiện đầy đủ các cam kết theo tiêu chuẩn của các nước tiên tiến, và ngoài thể chế trong kinh tế, còn là thể chế trong quản trị nhà nước, như về mua sắm công, về công khai, minh bạch trong các quyết định; về quyền khiếu kiện giữa doanh nghiệp và Nhà nước…

Thách thức này cũng chính là yêu cầu bức thiết của kinh tế nước ta. Dứt khoát tuân thủ các quy luật của kinh tế thị trường hiện đại, chấm dứt sự can thiệp của các cơ quan, tổ chức vào sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp bình đẳng trong kinh doanh; kinh tế tư nhân phải được coi là động lực của tăng trưởng kinh tế trong gia nhập TPP.

Đồng thời, phải đẩy mạnh cải cách hành chính, xóa bỏ những thủ tục hành chính đang gây ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của doanh nghiệp khi vào TPP. Chấm dứt tình trạng một số bộ ngành đang tiếp tục soạn thảo, ban hành thông tư quy định về trái ngược với Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư.

Thách thức cũng chính là cơ hội để buộc bộ máy nhà nước cần hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, nhất là các cơ quan thuế, hải quan; đội ngũ cán bộ công chức phải liêm khiết, tinh thông nghiệp vụ; triệt để xóa bỏ tệ nạn tham nhũng.

2. Xây dựng đội ngũ doanh nhân có tầm nhìn mới, năng lực mới.

Đội ngũ doanh nhân phải nắm bắt được những xu thế chuyển động của kinh tế thế giới, của chuỗi giá trị gia tăng và mạng sản xuất của toàn cầu và khối TPP, quan trọng nhất là nắm được những cam kết, lộ trình TPP mà các quốc gia thành viên phải tuân thủ để từ đó có những ý tưởng khởi nghiệp phù hợp và tận dụng được các ưu đãi mà TPP tạo ra, bước những bước vững chắc vào sân chơi mới. Doanh nhân tiếp thu kiến thức về khoa học, công nghệ cũng như kỹ năng quản trị kinh doanh trong doanh nghiệp của các nước phát triển trong TPP; Có ý chí, tầm nhìn vào gương sáng của những doanh nhân thành đạt trên thế giới với tinh thần “không có gì là không thể”.

Trong sân chơi TPP rộng lớn này, Việt Nam không chỉ tháo gỡ các rào cản để nâng tầm nhìn, tăng năng lực của doanh nghiệp, doanh nhân; mà cũng đòi hỏi nâng cao tầm nhìn, năng lực lãnh đạo của giới lãnh đạo, quản lý. Đó là tầm nhìn về vị thế Việt Nam trên trường quốc tế, về những giá trị phổ quát của thế giới, về con đường phát triển và xây dựng nền kinh tế thị trường hiện đại; là năng lực lãnh đạo, quản lý, năng lực hoạch định thể chế để sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của xã hội nhằm đưa đất nước phát triển bền vững, người dân có cuộc sống hạnh phúc.

Vào TPP không chỉ là lợi ích trước mắt mà còn là lợi ích lâu dài. Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, việc gia nhập TPP với sân chơi bình đẳng là điều bắt buộc phải đến, vấn đề là chúng ta phải biết lượng sức mình, khai thác tốt thế mạnh và biến thách thức thành cơ hội hay không mà thôi.

Nguồn: nguyentandung.org

Cập nhật ngày
 
Giới thiệu chung về Hiệp định TPP PDF. In bài viết Email
Tác giả: BBT tổng hợp   

Lịch sử hình thành Hiệp định TPP (tên tiếng Anh là Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement) là Hiệp định Đối tác Kinh tế Xuyên Thái Bình Dương. Do lúc đầu chỉ có 4 nước tham gia nên còn được gọi là P4. Hiệp định này khởi nguồn là Hiệp định Đối tác kinh tế chặt chẽ hơn do nguyên thủ 3 nước Chi-lê, Niu Di-lân và Xinh-ga-po (P3) phát động đàm phán nhân dịp Hội nghị Cấp cao APEC 2002 tổ chức tại Mê-hi-cô. Tháng 4 năm 2005, Bru-nei xin gia nhập với tư cách thành viên sáng lập trước khi vòng đàm phán cuối cùng kết thúc, biến P3 thành P4.

Lịch sử hình thành

Hiệp định TPP (tên tiếng Anh là Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement) là Hiệp định Đối tác Kinh tế Xuyên Thái Bình Dương. Do lúc đầu chỉ có 4 nước tham gia nên còn được gọi là P4.

Hiệp định này khởi nguồn là Hiệp định Đối tác kinh tế chặt chẽ hơn do nguyên thủ 3 nước Chi-lê, Niu Di-lân và Xinh-ga-po (P3) phát động đàm phán nhân dịp Hội nghị Cấp cao APEC 2002 tổ chức tại Mê-hi-cô. Tháng 4 năm 2005, Bru-nei xin gia nhập với tư cách thành viên sáng lập trước khi vòng đàm phán cuối cùng kết thúc, biến P3 thành P4.

Đây là Hiệp định mang tính "mở". Tuy không phải là chương trình hợp tác trong khuôn khổ APEC nhưng các thành viên APEC đều có thể gia nhập nếu quan tâm. Xinh-ga-po đã nhiều lần thể hiện mong muốn mở rộng TPP và sử dụng TPP như một công cụ để hiện thực hóa ý tưởng về Khu vực Mậu dịch Tự do Châu Á-Thái Bình Dương của APEC (FTAAP).

Các nội dung chính của Hiệp định TPP – P4

Hiệp định TPP có phạm vi điều chỉnh rộng, bao gồm cả hàng hóa, dịch vụ (chưa bao gồm dịch vụ tài chính do được đàm phán sau), vệ sinh an toàn thực phẩm (SPS), rào cản kỹ thuật (TBT), chính sách cạnh tranh, sở hữu trí tuệ, mua sắm chính phủ và minh bạch hóa. Ngoài ra, còn có một chương về hợp tác và 02 văn kiện đi kèm về Hợp tác Môi trường và Hợp tác Lao động.

Theo thỏa thuận, các bên tham gia P4 sẽ tiếp tục đàm phán và ký 02 văn kiện quan trọng về đầu tư và dịch vụ tài chính, chậm nhất là sau 02 năm kể từ khi P4 chính thức có hiệu lực (tức là từ tháng 3 năm 2008).

Điểm nổi bật nhất của P4 là tự do hóa rất mạnh về hàng hóa. Thuế nhập khẩu được xóa bỏ hoàn toàn và phần lớn là xóa bỏ ngay từ khi Hiệp định có hiệu lực.

Về dịch vụ, P4 thực hiện tự do hóa mạnh theo phương thức chọn-bỏ. Theo đó, tất cả các ngành dịch vụ đều được mở, trừ những ngành nằm trong danh mục loại trừ.

Hiệp định TPP mở rộng và sự tham gia của Việt Nam

Tháng 9 năm 2008, Mỹ tuyên bố tham gia TPP. Tiếp theo đó, tháng 11 năm 2008, Úc và Pê-ru cũng tuyên bố tham gia TPP. Tại buổi họp báo công bố việc tham gia của Úc và Pê-ru, đại diện các bên khẳng định sẽ đàm phán để thiết lập một khuôn khổ mới cho TPP. Kể từ đó, các vòng đàm phán TPP được lên lịch và diễn ra cho đến nay.

Từ năm 2006, qua nhiều kênh, Xinh-ga-po đã rất tích cực mời Việt Nam tham gia TPP - P4. Trước những cân nhắc cả về khía cạnh kinh tế và chính trị, Việt Nam chưa nhận lời mời này của Xinh-ga-po.

Tuy nhiên, với việc Mỹ quyết định tham gia TPP, và trước khi tuyên bố tham gia TPP, Mỹ đã mời Việt Nam cùng tham gia Hiệp định này, Việt Nam đã cân nhắc lại việc tham gia hay không tham gia TPP.

Đầu năm 2009, Việt Nam quyết định tham gia Hiệp định TPP với tư cách thành viên liên kết. Tháng 11 năm 2010, sau khi tham gia 3 phiên đàm phán TPP với tư cách này, Việt Nam đã chính thức tham gia đàm phán TPP. Trước đó, tháng 10 năm 2010, Ma-lai-xia cũng chính thức tham gia vào TPP, nâng tổng số nước tham gia đàm phán lên thành 9 nước.

Hiệp định TPP và quá trình đàm phán

Hiệp định TPP hiện nay được kỳ vọng sẽ trở thành một khuôn khổ thương mại toàn diện, có chất lượng cao và là khuôn mẫu cho các Hiệp định thế kỷ 21. Phạm vi của Hiệp định sẽ bao gồm hầu hết các lĩnh vực có liên quan tới thương mại, trong đó có nhiều lĩnh vực mới như môi trường, lao động, các vấn đề xuyên suốt liên quan đến thương mại như chuỗi cung ứng, doanh nghiệp vừa và nhỏ v.v…

Cho tới nay, Hiệp định TPP đã trải qua 7 vòng đàm phán, lần lượt được tổ chức tại các quốc gia thành viên là Úc (vào tháng 3 năm 2010), Hoa Kỳ (tháng 6 năm 2010), Bru-nây (tháng 10 năm 2010), Niu-di-lân (tháng 12 năm 2010), Chi-lê (tháng 2 năm 2011), Xinh-ga-po (tháng 3 năm 2011) và Việt Nam (tháng 6 năm 2011).

Về nội dung đàm phán, hiện hơn 20 nhóm đàm phán đã bước vào giai đoạn thảo luận thực chất trên cơ sở các đề xuất và văn bản thể hiện quan điểm của mỗi quốc gia thành viên trong từng lĩnh vực cụ thể thuộc phạm vi của Hiệp định. Một số nhóm đã đạt được những tiến bộ nhất định trong việc thu hẹp khoảng cách về quan điểm trong các lĩnh vực như mở cửa thị trường đối với hàng công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, đầu tư,v.v...

Ngoài các nội dung đàm phán mang tính truyền thống trong các FTA trên, các quốc gia thành viên còn tập trung thảo luận nhiều đề xuất và biện pháp để thúc đẩy hợp tác trong các vấn đề liên quan tới hoạch định chính sách, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, phát triển chuỗi cung cấp và sản xuất giữa các nước thành viên, nâng cao sự tham gia của các doanh nghiệp vừa và nhỏ vào quá trình lưu thông hàng hóa giữa các quốc gia thành viên TPP, cũng như thúc đẩy sự phát triển chung của các quốc gia thành viên.

Với mục tiêu duy trì tính “mở” của Hiệp định TPP, tức là có cơ chế kết nạp thêm thành viên mới trong tương lai và các bên có thể tiếp tục đàm phán những vấn đề phát sinh sau khi Hiệp định có hiệu lực, các nhóm đàm phán cũng đang nỗ lực đưa ra nhiều đề xuất và biện pháp liên quan để bảo đảm Hiệp định sẽ mang lại lợi ích nhiều nhất cho tất cả những nước đang và sẽ tham gia Hiệp định.

Nét mới trong đàm phán Hiệp định TPP so với các FTA truyền thống trước đây là sự tham gia của các đối tượng liên quan như doanh nghiệp, hiệp hội, tổ chức xã hội. Tại mỗi phiên đàm phán, các đối tượng trên luôn được tạo cơ hội để trao đổi thông tin cũng như bày tỏ quan điểm và nguyện vọng đối với các nội dung đàm phán của Hiệp định thông qua các buổi hội thảo và diễn đàn dành cho các đối tượng liên quan được tổ chức bên lề các phiên đàm phán.

Những cơ hội và thách thức của Việt Nam khi tham gia Hiệp định TPP

Những cơ hội khi tham gia Hiệp định TPP

- Hội nhập khu vực đang nổi lên đóng vai trò chủ đạo với nhiều hình thức phong phú, đa dạng, đặc biệt là tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương. Xu thế này không chỉ phản ánh sự mưu cầu lợi ích kinh tế mà còn phản ánh cục diện chính trị quốc tế mới, sau sự nổi lên nhanh chóng của một số nước đang phát triển hàng đầu. Tham gia vào Hiệp định TPP, một cấu trúc quan trọng của khu vực, sẽ giúp Việt Nam nắm bắt và tận dụng tốt hơn các cơ hội do quá trình tái cấu trúc cục diện quốc tế và khu vực cũng như xu thế hội nhập kinh tế khu vực đem lại.

- Tham gia Hiệp định TPP sẽ giúp Việt Nam có thêm điều kiện, tranh thủ hợp tác quốc tế để phục vụ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, triển khai chiến lược hội nhập quốc tế nói chung và chiến lược đối ngoại ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương nói riêng, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

- Thông qua Hiệp định TPP, Việt Nam sẽ có cơ hội đàm phán để Hoa Kỳ mở cửa thị trường cho hàng hóa của Việt Nam, tạo cú hích mạnh để thúc đẩy xuất khẩu, kiềm chế nhập siêu. Bên cạnh đó, việc tham gia Hiệp định TPP sẽ góp phần thúc đẩy hơn nữa đầu tư của Hoa Kỳ và các nước vào Việt Nam.

Những thách thức khi tham gia Hiệp định TPP

- Việc cam kết và thực hiện các cam kết sâu và rộng trong khuôn khổ đàm phán Hiệp định TPP sẽ đặt ra những thách thức không nhỏ, đặc biệt là sức ép về mở cửa thị trường, cạnh tranh đối với các doanh nghiệp của Việt Nam, vốn còn yếu, khả năng quản lý còn nhiều bất cập. Nếu không có sự chuẩn bị tốt, nhiều ngành sản xuất và dịch vụ có thể sẽ gặp khó khăn. Tuy nhiên, đây là con đường mà sớm hay muộn Việt Nam cũng phải đi qua để chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành công, theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, chất lượng và hiệu quả của tăng trưởng kinh tế.

- Tham gia Hiệp định TPP có thể gây ra một số hệ quả xã hội tiêu cực như tình trạng phá sản và thất nghiệp ở các doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh yếu. Ngoài ra, kết quả đàm phán nội dung lao động trong Hiệp định TPP có thể sẽ có tác động tới môi trường lao động ở Việt Nam.

- Để thực thi cam kết trong Hiệp định TPP, Việt Nam có thể sẽ phải điều chỉnh, sửa đổi nhiều quy định pháp luật về thương mại, đầu tư, đấu thầu, sở hữu trí tuệ… Với những kinh nghiệm có được từ quá trình đàm phán gia nhập WTO, đây có thể không phải là một thách thức quá lớn đối với Việt Nam.

Nguồn: Bộ Ngoại giao Việt Nam

 
Những thách thức và vai trò của tuổi trẻ trong quá trình hội nhập cộng đồng ASEAN và quốc tế PDF. In bài viết Email
Tác giả: Ban TC-KT Tỉnh đoàn   

Như chúng ta đã biết, xây dựng thành công Cộng đồng ASEAN 2015 vì mục tiêu hòa bình, ổn định, phát triển và hướng tới người dân là dấu mốc quan trọng trong lịch sử của ASEAN. Dưới một mái nhà chung, các dân tộc ở Đông Nam Á sẽ chung sống, gắn kết, chia sẻ lợi ích và phát triển trên chặng đường mới của mình. Để hiện thực hóa điều này, các quốc gia ASEAN trong đó có Việt Nam chúng ta đã đề ra những mục tiêu, biện pháp cụ thể, thiết thực trong lộ trình xây dựng Cộng đồng ASEAN, đồng thời phát huy vai trò, nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân trong việc chung tay xây dựng “Một tầm nhìn, một bản sắc, một cộng đồng”, trong đó tuổi trẻ thanh niên được đánh giá là một phần không thể thiếu trong việc đẩy nhanh lộ trình tiến đến cộng đồng vào năm 2015.

Bến Tre là một trong 13 tỉnh, thành thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, tạo ấn tượng mạnh mẽ với du khách trong và ngoài nước bởi sự đa dạng văn hóa và thiên nhiên sông nước miệt vườn. Đây còn là một ốc đảo được hợp thành từ ba dãy cù lao (cù lao Bảo, cù lao Minh, cù lao An Hóa) và được bồi tụ bởi phù sa của 4 con sông Tiền, Hàm Luông, Ba Lai và Cổ Chiên nên đất đai rất phì nhiêu, màu mỡ, thích hợp trồng nhiều loại trái cây, trong đó nổi tiếng nhất là cây dừa. Bến Tre hiện có diện tích đất trồng dừa lớn nhất nước được mệnh danh là “Quê hương xứ dừa”, sản lượng hàng năm khoảng trên 500 triệu trái, không chỉ cung cấp trong nước mà còn xuất khẩu đi các nước như Singapore, Malaysia, Philippin, Inđonesia, Thái Lan, …Ngoài  ra, Bến Tre được cả nước và du khách nước ngoài biết đến là quê hương Đồng Khởi anh hùng. Đó là một niềm tự hào, đồng thời là điều kiện quý báu để nhân dân và đặc biệt là thế hệ trẻ Bến Tre tăng cường mối quan hệ giao lưu với các nước, giới thiệu về quê hương đất và người Bến Tre; cùng hợp tác, giúp đỡ, cùng nhau xây dựng cộng đồng ASEAN hội nhập và phát triển.

Trong những năm qua, tuổi trẻ Việt Nam nói chung và tuổi trẻ Bến Tre nói riêng đã tổ chức nhiều hoạt động ý nghĩa, thiết thực nhằm thúc đẩy mối quan hệ giao lưu với các nước ASEAN với các nội dung chính như: giao lưu văn hóa văn nghệ, trao đổi kinh nghiệm công tác trên các lĩnh vực, triển lãm văn hóa - nơi các đại biểu thanh niên được trao cơ hội quảng bá nền văn hóa nước nhà,  giới thiệu việc làm, học bổng du học nước ngoài, mở ra cơ hội nghề nghiệp và học tập nâng cao trình độ cho thanh niên...; Đặc biệt trong năm qua, Ban Thường vụ Tỉnh đoàn phối hợp với Thành đoàn Thành phố Hồ Chí Minh và Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài tổ chức chương trình Trại hè dành cho các bạn thanh thiếu niên kiều bào sinh sống tại nước ngoài, trong đó có thanh niên các nước ASEAN tham gia. Đây là cơ hội là cầu nối để cho thanh niên Bến Tre có dịp để giao lưu thanh niên nước ngoài, qua đó giúp thanh niên tỉnh nhà bắt nhịp sâu vào xu thế hội nhập thế giới.

Tuy nhiên, cùng với quá trình hội nhập vào Cộng đồng ASEAN, tuổi trẻ chúng ta đang đứng trước nhiều khó khăn thách thức lớn đó là: trình độ học vấn, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kiến thức kinh tế, quản lý, kiến thức pháp luật và ý thức chấp hành pháp luật của một số bộ phận thanh niên nhìn chung còn thấp. Trong thanh niên nhận thức về học nghề, chọn nghề, định hướng nghề nghiệp còn nhiều lệch lạc, việc làm và thu nhập thấp vẫn đang là những vấn đề bức xúc trong thanh niên, ngôn ngữ giao tiếp, nghiên cứu, tìm hiểu về văn hóa, tôn giáo, chính trị, kinh tế của các nước chưa nhiều; chất lượng tay nghề còn thấp và còn khoảng cách khá lớn so với các nước trong khu vực. Sức khoẻ và thể chất của thanh niên còn thấp hơn các nước trên thế giới rất nhiều, bên cạnh đó một bộ phận không nhỏ trong thanh niên thiếu ý thức rèn luyện để hoàn thiện nhân cách của mình, non kém về nhận thức chính trị, chưa xác định được lý tưởng sống đúng đắn…

Một nội dung có tính chất quyết định đến phát triển kinh tế đất nước giai đoạn hiện nay là Việt Nam tham gia Hiệp định thương mại tự do xuyên Thái Bình Dương TPP với tư cách là một trong những thành viên đầu tiên (gồm Ốt-xtrây-lia, Bru-nây, Ca-na-đa, Chi-lê, Nhật Bản, Ma-lai-xi-a, Mê-hi-cô, Niu Di-lân, Pê-ru, Xinh-ga-po, Hoa Kỳ và Việt Nam). TPP được xem là thỏa thuận thương mại lớn nhất trong lịch sử nhân loại, giúp giảm thuế xuất nhập khẩu, cũng như các loại bảo hộ thương mại tại 12 quốc gia thành viên, tạo cho Việt Nam các cơ hội giúp nâng cao tốc độ tăng trưởng. Hệ quả là sẽ tạo thêm nhiều việc làm, nâng cao thu nhập và góp phần xoá đói giảm nghèo. Tăng trưởng kinh tế cũng giúp Việt Nam có thêm nguồn lực để cải thiện chất lượng nguồn nhân lực và chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất là sức ép cạnh tranh, đặc biệt là trong lĩnh vực chăn nuôi, là ngành gặp nhiều khó khăn nhất khi cam kết TPP có hiệu lực; các doanh nghiệp vẫn dựa vào sự bao cấp của Nhà nước, các doanh nghiệp có công nghệ sản xuất và kinh doanh lạc hậu rơi vào tình trạng khó khăn (thậm chí phá sản), kéo theo đó là khả năng thất nghiệp trong một bộ phận lao động sẽ xảy ra. Việc nước ta gia nhập TPP tác động mạnh mẽ đến thanh niên Việt Nam nói chung, thanh niên Bến Tre nói riêng với tư cách là lao động chính của xã hội, cơ hội việc làm sẽ tăng lên nhưng nếu tình trạng lao động qua đào tạo và lao động trình độ cao vẫn thấp như hiện nay thì thử thách trong việc tìm kiếm việc làm, nâng cao thu nhập cho thanh niên sẽ rất khó khăn, đó là chưa kể đến khả năng vận dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất, kinh doanh để sản phẩm của các tổ hợp tác, tổ liên kết, mô hình kinh tế hiệu quả trong thanh niên đáp ứng được thị trường đang là vấn đề bất cập. Bên cạnh đó, nhận thức của một bộ phận lớn thanh niên còn hạn chế khi xem việc gia nhập TPP là việc của Đảng, Chính phủ, của những người làm kinh tế nên không quan tâm tìm hiểu, chưa có động thái chuyển bộ trong hành động đang là thách thức lớn làm cho thanh niên Bến Tre có nguy cơ tụt hậu về trình độ, kỹ năng, chất lượng lao động so với nhu cầu phát triển của đất nước đang ngày một nâng cao.

Trước những thời cơ thuận lợi và những thách thức mới khi đất nước ta trong quá trình gia nhập cộng đồng ASEAN và hội nhập kinh tế quốc tế, bản thân chúng ta, hơn lúc nào hết phải nhận thấy rõ vị trí, vai trò của mình đối với sự phát triển của đất nước, nhận thức được khó khăn lớn nhất của mình trong giai đoạn này là sự cạnh tranh quyết liệt về trí tuệ để đạt tới những đỉnh cao của khoa học, kỹ thuật và công nghệ cũng như trình độ quản lý để không lạc hậu so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Mỗi một thanh niên cần nhận thức và ý thức được vai trò của mình trong tiến trình xây dựng cộng đồng ASEAN, cần tích cực tự học tập, tự rèn luyện và tự nghiên cứu để nâng cao trình độ về mọi mặt, phải trau dồi bản lĩnh chính trị, giữ vững lý tưởng xã hội chủ nghĩa, đồng thời cần tìm hiểu về văn hóa, tôn giáo, chính trị, kinh tế, ngôn ngữ,… của các nước trong khu vực để chủ động nâng cao năng lực hội nhập. Đây vừa là trách nhiệm, nghĩa vụ, vừa là quyền lợi của thanh niên, của tổ chức Đoàn các cấp trong tỉnh nhà để cùng đất nước gặt hái được nhiều thành công trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế năm 2016 và những năm tiếp theo.

 

Cập nhật ngày
 
Hiểu thêm về Cộng đồng Kinh tế ASEAN - AEC PDF. In bài viết Email
Tác giả: BBT sưu tầm   

Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) là sự hội nhập của các quốc gia thành viên ASEAN thành một khối sản xuất, thương mại và đầu tư, tạo ra thị trường chung của một khu vực có dân số 600 triệu người, tổng sản lượng (GDP) hằng năm khoảng 2.000 tỷ USD và là nền kinh tế đứng thứ bảy thế giới.

Trong tinh thần này, AEC sẽ thực hiện tự do luân chuyển năm yếu tố căn bản: vốn liếng, hàng hóa, dịch vụ, đầu tư và lao động lành nghề.

Khi AEC ra đời, thuế nhập khẩu sản phẩm và dịch vụ từ các nước thành viên sẽ giảm về 0%, tất cả các lĩnh vực kinh tế sẽ được mở cửa tiếp nhận đầu tư và doanh nghiệp một nước thành viên làm ăn ở các nước AEC khác sẽ được đối xử bình đẳng với doanh nghiệp sở tại.

Nếu thành công thì AEC sẽ là sự hòa nhập khu vực một cách toàn diện, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ cho các nền kinh tế thành viên.

Bốn mục tiêu của AEC

Bốn mục tiêu và cũng là bốn yếu tố cấu thành AEC bao gồm:

- Một thị trường đơn nhất và cơ sở sản xuất chung, được xây dựng thông qua: Tự do lưu chuyển hàng hóa; Tự do lưu chuyển dịch vụ; Tự do lưu chuyển đầu tư; Tự do lưu chuyển vốn và Tự do lưu chuyển lao động có tay nghề.

- Một khu vực kinh tế cạnh tranh, được xây dựng thông qua các khuôn khổ chính sách về cạnh tranh, bảo hộ người tiêu dùng, quyền sở hữu trí tuệ, phát triển cơ sở hạ tầng, thuế quan và thương mại điện tử.

- Phát triển kinh tế cân bằng, được thực hiện thông qua các kế hoạch phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) và thực hiện sáng kiến hội nhập nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển trong ASEAN.

- Hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, được thực hiện thông qua việc tham vấn chặt chẽ trong đàm phán đối tác và trong tiến trình tham gia vào mạng lưới cung cấp toàn cầu (WTO).

Thực chất

Mặc dù mang tên “Cộng đồng kinh tế”, AEC thực chất chưa thể được coi là một cộng đồng kinh tế gắn kết như Cộng đồng Kinh tế châu Âu (EEC) mà vào năm 1993 được đổi tên thành Cộng đồng châu Âu (EC), bởi không có cơ cấu tổ chức chặt chẽ và những cam kết ràng buộc với lộ trình thực hiện cụ thể.

AEC thực chất là đích hướng tới của các nước ASEAN thông qua việc hiện thực hóa dần dần bốn mục tiêu kể trên (trong đó chỉ mục tiêu thứ nhất được thực hiện tương đối toàn diện và đầy đủ thông qua các hiệp định và thỏa thuận ràng buộc, các mục tiêu còn lại mới chỉ dừng lại ở việc xây dựng lộ trình và thực hiện một số sáng kiến khu vực).

AEC là một tiến trình hội nhập kinh tế khu vực chứ không phải là một thỏa thuận hay hiệp định với các cam kết ràng buộc thực chất. Tham gia vào các mục tiêu của AEC là hàng loạt các hiệp định, thỏa thuận, tuyên bố… giữa các nước ASEAN có liên quan tới các mục tiêu này.

Những văn bản này có thể bao gồm những cam kết có tính ràng buộc thực thi, cũng có những văn bản mang tính tuyên bố, mục tiêu hướng tới không bắt buộc của các nước ASEAN.

Việc hiện thực hóa AEC đã được triển khai trong cả quá trình dài trước đây (thông qua việc thực hiện các cam kết tại các Hiệp định cụ thể về thương mại đã ký kết giữa các nước ASEAN) và sẽ được tiếp tục thực hiện trong thời gian tới.

Nguồn: DNSG Online

Cập nhật ngày
 
Những thách thức và vai trò của tuổi trẻ trong quá trình hội nhập cộng đồng ASEAN và quốc tế PDF. In bài viết Email
Tác giả: Ban Tổ chức - Kiểm tra Tỉnh đoàn   

Như chúng ta đã biết, xây dựng thành công Cộng đồng ASEAN 2015 vì mục tiêu hòa bình, ổn định, phát triển và hướng tới người dân là dấu mốc quan trọng trong lịch sử của ASEAN. Dưới một mái nhà chung, các dân tộc ở Đông Nam Á sẽ chung sống, gắn kết, chia sẻ lợi ích và phát triển trên chặng đường mới của mình. Để hiện thực hóa điều này, các quốc gia ASEAN trong đó có Việt Nam chúng ta đã đề ra những mục tiêu, biện pháp cụ thể, thiết thực trong lộ trình xây dựng Cộng đồng ASEAN, đồng thời phát huy vai trò, nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân trong việc chung tay xây dựng “Một tầm nhìn, một bản sắc, một cộng đồng”, trong đó tuổi trẻ thanh niên được đánh giá là một phần không thể thiếu trong việc đẩy nhanh lộ trình tiến đến cộng đồng vào năm 2015.

Cập nhật ngày
Đọc thêm...
 
«Bắt đầuLùi12Tiếp theoCuối»

Trang 2 trong tổng số 2 trang.