Chào mừng các bạn đến với Website Tỉnh đoàn Bến Tre

Chiến dịch “Thanh niên tình nguyện hè” tỉnh Bến Tre năm 2018 - Tuổi trẻ Bến Tre Tiên phong sáng tạo, tình nguyện vì cộng đồng”

Học tập và làm theo lời Bác



Tuổi trẻ Bến Tre làm theo lời Bác
Huyện đoàn Giồng Trôm tổ chức Hội nghị học tập chuyên đề năm 2017 “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” PDF. In bài viết Email
Tuổi trẻ Bến Tre làm theo lời Bác
Tác giả: Diệu Hiền   
Sáng ngày 24/5/2017, tại Hội trường Nhà thiếu nhi huyện, Huyện Đoàn Giồng Trôm tổ chức Hội nghị học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh chuyên đề năm 2017 trong cán bộ đoàn, hội chủ chốt trên địa bàn huyện. Đồng chí Nguyễn Thanh Phụ - Bí thư Huyện đoàn triển khai nội dung ch…
Cập nhật ngày
 
CHI ĐOÀN TỈNH ĐOÀN PHỐI HỢP TỔ CHỨC HÀNH TRÌNH VỀ ĐỊA CHỈ ĐỎ LẦN III, NĂM 2017 PDF. In bài viết Email
Tuổi trẻ Bến Tre làm theo lời Bác
Tác giả: Ban Tuyên giáo Tỉnh đoàn   

Nhằm thiết thực chào mừng 127 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890-19/5/2017), kỷ niệm 70 năm Ngày Thương binh liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2017). Ngày 21/5/2017 BCH Chi đoàn Tỉnh đoàn Bến Tre phối hợp với Chi đoàn Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Nhà khách – Văn phòng Tỉnh ủy, Văn phòng Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Báo Đồng Khởi, Đoàn cơ sở Co.opmart Bến Tre, Chi đoàn trung tâm thương mại Sense City Bến Tre tổ chức “Hành trình về địa chỉ đỏ” lần thứ III, năm 2017 với sự tham gia của hơn 50 đoàn viên.

Cập nhật ngày
Đọc thêm...
 
HỘI NGHỊ HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH NĂM 2017 PDF. In bài viết Email
Tuổi trẻ Bến Tre làm theo lời Bác
Tác giả: Đoàn TN trường Cao đẳng Bến Tre   

Căn cứ Hướng dẫn 105 – CV/TĐTN – BTG ngày 04/5/2017 của Ban Thường vụ Tỉnh đoàn về việc học tập chuyên đề về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong cán bộ Đoàn, đoàn viên, thanh niên giai đoạn 2016-2020 và Công văn số 2666-CV/TĐTN-BTG, ngày 05/5/2017 của Ban Thường vụ Tỉnh đoàn về việc tổ chức các hoạt động kỷ niệm 127 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1989 – 19/5/2017)

Cập nhật ngày
Đọc thêm...
 
TUỔI TRẺ CHỢ LÁCH MỪNG KỶ NIỆM 127 NĂM NGÀY SINH CỦA BÁC PDF. In bài viết Email
Tuổi trẻ Bến Tre làm theo lời Bác
Tác giả: Huỳnh Ly - Huyện đoàn Chợ Lách   

Tuổi trẻ Chợ Lách sôi nổi các hoạt động chào mừng kỷ niệm 127 năm ngày sinh chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 19/5/2017).

Cập nhật ngày
Đọc thêm...
 
Nhiều hoạt động thiết thực, ý nghĩa nhân kỷ niệm 127 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh PDF. In bài viết Email
Tuổi trẻ Bến Tre làm theo lời Bác
Tác giả: Kim Đồng - Huyện đoàn Giồng Trôm   

Nhân kỷ niệm 127 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2017), các xã, thị trấn đoàn trên địa bàn huyện đã thực hiện nhiều công trình, phần việc ý nghĩa, thiết thực.

Cập nhật ngày
Đọc thêm...
 
Bến Tre sôi nổi hoạt động kỷ niệm 127 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 19/5/2017) chào mừng Đại hội Đoàn TNCS Hồ Chí Minh các cấp PDF. In bài viết Email
Tuổi trẻ Bến Tre làm theo lời Bác
Tác giả: Ban Tuyên giáo Tỉnh đoàn   
Thiết thực lập thành tích chào mừng kỷ niệm 127 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh và chào mừng Đại hội Đoàn cấp huyện, thành, phố và tương đương nhiệm kỳ 2017 – 2022, từ ngày 11/5 đến 23/5/2017 tuổi trẻ Bến Tre tổ chức đợt sinh hoạt chính trị chủ đề “Nhớ về Bác lòng ta trong sáng hơn” và quán triệt…
Cập nhật ngày
 
Đoàn Thanh niên Phường 3 phối hợp tổ chức họp mặt kỷ niệm 127 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh và sinh hoạt chuyên đề “Nhớ về Bác lòng ta trong sáng hơn” PDF. In bài viết Email
Tuổi trẻ Bến Tre làm theo lời Bác
Tác giả: Tràng Nam - Phường 3, Tp. Bến Tre   

Nhằm không ngừng nâng cao nhận thức chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên, thành viên Câu lạc bộ và đoàn viên, thanh niên về rèn luyện phẩm chất đạo đức lối sống theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Chiều ngày 18/5/2017, tại Hội trường Phường 3, Ban Chấp hành Đoàn TNCS HCM Phường 3 phối hợp Ban Tuyên giáo Đảng ủy, Ban Chủ nhiệm Câu lạc bộ “Làm theo gương Bác” Phường tổ chức họp mặt kỷ niệm 127 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh và sinh hoạt chuyên đề “Nhớ về Bác lòng ta trong sáng hơn” năm 2017. Đến tham dự chương trình có lãnh đạo Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban MTTQ, các đồng chí thành viên Ban Tuyên giáo, thành viên Câu lạc bộ “Làm theo gương Bác”, cán bộ, đảng viên, đoàn viên, thanh niên Phường 3.

Cập nhật ngày
Đọc thêm...
 
Chi bộ Tỉnh đoàn tổ chức sinh hoạt chuyên đề học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh chủ đề “Phòng chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống trong cán bộ đảng viên”. PDF. In bài viết Email
Tuổi trẻ Bến Tre làm theo lời Bác
Tác giả: Ban Tuyên giáo Tỉnh đoàn   
Thực hiện chỉ đạo của Ban Thường vụ Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh và hướng tới kỷ niệm 127 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 19/5/2017), sáng ngày 18/5/2017, Chi bộ Tỉnh đoàn tổ chức sinh hoạt chuyên đề học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh chủ đề “Phòng chống s…
Cập nhật ngày
 
Phong cách thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong đấu tranh chống bệnh giáo điều PDF. In bài viết Email
Tuổi trẻ Bến Tre làm theo lời Bác
Tác giả: ThS. Nguyễn Hồng Điệp - Bộ Quốc phòng   

Phong cách thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh là những đặc điểm riêng có trong cách nghĩ và hành động của Người. Trong đó, mọi suy nghĩ, hành động của Người luôn dựa trên thực tiễn sinh động của cuộc sống. Phong cách thực tiễn của Người là sự vận dụng nhuần nhuyễn quan điểm thực tiễn, trở thành nguyên tắc trong suy nghĩ và hành động. Học tập phong cách thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa rất lớn trong đấu tranh chống bệnh giáo điều trong cán bộ, đảng viên ở nước ta hiện nay.

1. Phong cách thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Hành trình tìm đường cứu nước và quá trình hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu hiện sâu sắc của phong cách thực tiễn. Người luôn hướng nhận thức của mình vào thực tiễn xã hội Việt Nam trong quá trình đến với chủ nghĩa Mác - Lê-nin; luôn tiếp thu, chắt lọc những yếu tố phù hợp với thực tiễn Việt Nam để giải quyết những vấn đề cách mạng Việt Nam đang đặt ra. Khi ở cương vị là lãnh đạo cao nhất của nhà nước, mặc dù phải giải quyết bộn bề công việc của chính quyền non trẻ, nhưng Người luôn luôn sâu sát thực tế, gắn bó với cơ sở, gần gũi với nhân dân. Từ năm 1955 đến năm 1965, Người đã nhiều lần đi thăm, tiếp xúc với cán bộ, bộ đội, công nhân, giáo viên, bác sĩ, nông dân, các cụ phụ lão, các cháu thanh, thiếu niên nhi đồng, các đơn vị bộ đội, thanh niên xung phong, các hợp tác xã, bệnh viện, trường học…

Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, dân tộc Việt Nam bị chế độ thực dân đặt ách thống trị và thực hiện chính sách bóc lột hà khắc. Nhân dân Việt Nam sống hết sức cơ cực, vừa chịu áp bức của phong kiến, vừa chịu ách đô hộ của thực dân. Đứng trước hoàn cảnh đất nước bị giặc ngoại xâm áp bức, với truyền thống yêu nước và ý chí đấu tranh bất khuất, các phong trào yêu nước đã nổ ra ở khắp nơi. Nhưng các phong trào đó đều thất bại vì không lôi kéo được đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia và không phản ánh đúng được xu thế của thời đại. Tình hình đó đã đặt ra yêu cầu phải tìm được con đường mới đúng đắn phù hợp cho dân tộc. Thực tiễn đó đã thôi thúc người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành không thể rập khuôn theo những lối mòn về con đường cứu nước của những bậc tiền bối, mà phải căn cứ vào những điều kiện cụ thể trong nước và thế giới để có hướng đi đúng. Trong khi đó, ở phương Tây, cuộc cách mạng tư sản diễn ra mạnh mẽ, nhân dân các nước đó đã được “tự do, bình đẳng”. Thực tiễn các nước phương Tây đã thôi thúc Người phải sang tận nơi để tìm hiểu tường tận rồi từ đó trở về “cởi ách” cho dân tộc mình. Phong cách thực tiễn của Người được thể hiện trong câu trả lời một nhà báo Liên Xô: “Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: tự do, bình đẳng, bác ái… Và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn náu đằng sau những chữ ấy”(1). Từ hoàn cảnh đất nước khi đó đã đặt ra yêu cầu bức thiết cần phải tìm ra một lối đi mới đưa cách mạng Việt Nam đi tới thắng lợi chính là điểm xuất phát trong suy nghĩ của Người để tìm ra con đường cứu nước cho dân tộc.

Suốt quá trình tìm đường cứu nước cho đến khi giành được chính quyền, lãnh đạo chính quyền, xây dựng nhà nước mới, Người luôn xuất phát từ thực tiễn để rút ra những nhận định, giải đáp những yêu cầu của thực tiễn, khái quát thành lý luận chỉ đạo hoạt động thực tiễn. Trong cuộc hành trình qua các châu lục, từ Châu Âu đến Châu Phi, Châu Mỹ La tinh, qua các nước từ Việt Nam đến Trung Quốc, Pháp, Mỹ, Anh… Người luôn muốn tìm hiểu thực tiễn cuộc sống của nhân dân lao động, bằng việc trực tiếp làm những công việc của họ. Thực tiễn cuộc sống của nhân dân các nước thuộc địa và các nước tư bản đã giúp Người có những nhận thức mới. Đó là những tài liệu sống vô cùng quý giá, chân thực cho những bài tố cáo tội ác của thực dân, là cơ sở để Người viết “Bản án chế độ thực dân Pháp”; đồng thời, là cơ sở để Người phác họa con đường cách mạng Việt Nam thể hiện trong các văn kiện quan trọng như: Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ tóm tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Những dữ liệu của thực tiễn cùng với quá trình nghiên cứu lý luận của chủ nghĩa Mác là cơ sở quan trọng giúp Người đề ra tư tưởng cách mạng tự lực cánh sinh: “Vận dụng công thức của Các Mác, chúng tôi xin nói với anh em rằng, công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện được bằng sự nỗ lực của bản thân anh em”(2). Sau này, Người tiếp tục khẳng định, một dân tộc cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập. Có thể thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn trên cơ sở của thực tiễn để đề ra lý luận giải đáp các vấn đề thực tiễn đặt ra.

Phong cách thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn được thể hiện ở việc Người luôn quán triệt quan điểm thực tiễn trong nhận thức và hành động. Khi đến với chủ nghĩa Mác, Người không áp dụng một cách máy móc, giáo điều, mà luôn đứng trên “mảnh đất hiện thực” cách mạng Việt Nam, trên nền của văn hóa phương Đông để vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin. Người luôn tư duy biện chứng, bổ sung, phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác trên cơ sở những vấn đề thực tiễn ở nước ta nói riêng và các nước phương Đông nói chung. Vì vậy, khi còn hoạt động ở nước ngoài, Người từng viết: “Dù sao cũng không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được. Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử Châu Âu. Mà Châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại. Xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông”(3). Như vậy, quan điểm thực tiễn luôn được Người quán triệt sâu sắc và triệt để, đảm bảo lý luận thống nhất với thực tiễn, bổ sung phát triển lý luận trên cơ sở thực tiễn và phù hợp với thực tiễn.

Quá trình lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng không nên coi lý luận về chủ nghĩa xã hội của chủ nghĩa Mác là kinh thánh, là những công thức có sẵn, cứng nhắc, mà phải luôn luôn xuất phát từ thực tiễn của đất nước để vận dụng lý luận đó vào nước ta cho phù hợp: “Tuy chúng ta đã có những kinh nghiệm dồi dào của các nước anh em, nhưng chúng ta không thể áp dụng những kinh nghiệm ấy một cách máy móc, bởi vì nước ta có những đặc điểm riêng của ta”(4). Với đặc điểm từ một nước nông nghiệp lạc hậu, điểm xuất phát thấp đi lên chủ nghĩa xã hội càng phải lựa chọn hình thái, bước đi thích hợp; tiến dần từng bước lên chủ nghĩa xã hội. Người nêu rõ quan điểm: "Chủ nghĩa xã hội không thể làm mau được mà phải làm dần dần”(5). Phải sử dụng đúng đắn các thành phần kinh tế, kể cả kinh tế tư bản tư nhân, các nhà tư sản. Không phải bắt ép mà thuyết phục các nhà tư sản. “Các nhà tư sản sẽ hợp tác với Chính phủ để sản xuất dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân. Phải hướng về phía ấy, mà công tư hợp doanh cũng còn phải tiến lên nữa. Các nhà tư sản sẽ thấy công tư hợp doanh có lợi, không có hại, dần dần họ thấy nhất định phải tiến lên chủ nghĩa xã hội”(6). Quan điểm nhất quán của Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất phát từ hoàn cảnh đất nước, đây là công việc to lớn “đó là cả một công tác tổ chức và giáo dục”(7). Tất cả nhân dân cố gắng thì mới tiến mau được. Nếu không xuất phát từ thực tiễn, không nhận thức sâu sắc những đặc điểm hoàn cảnh của đất nước và rập khuôn cách làm của nước ngoài thì có thể không thành công. Lựa chọn phương pháp, con đường đi phù hợp đòi hỏi phải sáng tạo. Từ tháng 7/1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Ta không thể giống Liên Xô, vì Liên Xô có phong tục tập quán khác, có lịch sử địa lý khác… Ta có thể đi con đường khác để tiến lên chủ nghĩa xã hội"(8).

Trong mọi hoàn cảnh, phong cách thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh là phương châm chỉ đạo hành động của Người, đó là phải luôn phân tích tình hình cụ thể của lịch sử, vận dụng sáng tạo lý luận vào những hoàn cảnh cụ thể để đưa ra những quyết sách đúng đắn cho cách mạng thành công. Sự phân tích cụ thể tình hình đối với toàn bộ vấn đề giải phóng dân tộc và giải phóng thuộc địa đã đưa tầm nhìn của Chủ tịch Hồ Chí Minh ghi dấu ấn vào lịch sử. Trong “Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ” gửi Quốc tế Cộng sản để kiến nghị về chiến lược và sách lược của phong trào cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cuộc đấu tranh giai cấp không diễn ra giống như ở phương Tây”(9). Quan điểm thực tiễn đã giúp Chủ tịch Hồ Chí Minh có một cái nhìn tổng quát bối cảnh xã hội và thực trạng giai cấp ở phương Đông không giống các xã hội phương Tây.

Từ tư duy biện chứng đó, Người khẳng định: Đối với các dân tộc thuộc địa ở phương Đông “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước”(10) và trong cách mạng giải phóng dân tộc, “người ta sẽ không thể làm được cho người An Nam nếu không dựa trên động lực vĩ đại và duy nhất của đời sống xã hội của họ”(11). Từ luận điểm đó, Người đã kiến nghị về cương lĩnh hành động của Quốc tế Cộng sản: “Phát động chủ nghĩa dân tộc bản xứ nhân danh Quốc tế Cộng sản… Khi chủ nghĩa dân tộc của họ thắng lợi… nhất định chủ nghĩa dân tộc ấy sẽ biến thành chủ nghĩa quốc tế”(12). Như vậy, nếu không có tư duy biện chứng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không thấy được sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc ở phương Đông, không tìm thấy động lực để đoàn kết mọi thành phần tạo ra sức mạnh to lớn mà những người cộng sản phải nắm lấy để giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh giành độc lập.

Sự vận dụng nhuần nhuyễn quan điểm thực tiễn đã tạo nên phong cách thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

2. Giá trị của phong cách thực tiễn trong khắc phục bệnh giáo điều của cán bộ, đảng viên

Trong phong cách thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh không có một biểu hiện nào của căn bệnh giáo điều. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận ra căn bệnh giáo điều này ở một số cán bộ, đảng viên, Người phê phán lối tiếp thu lý luận và kinh nghiệm theo kiểu “thuộc lòng từng câu từng chữ, đem kinh nghiệm của các nước anh em áp dụng một cách máy móc”(13). Theo Người, một số cán bộ ta chỉ biết học tập lý luận mà không liên hệ với thực tiễn, tuyệt đối hóa vai trò của tri thức lý luận, tách rời lý luận khỏi thực tiễn, lúc đó cán bộ ta tự biến mình thành “cái hòm đựng sách” - giáo điều về lý luận. Học tập và áp dụng kinh nghiệm một cách rập khuôn, máy móc, cứng nhắc, thiếu sáng tạo và không chú ý đến điều kiện lịch sử cụ thể, làm ảnh hưởng không tốt đến chất lượng, hiệu quả hoạt động cải tạo hiện thực. Bệnh giáo điều là do lối tư duy giáo điều của những người sản xuất nhỏ, trong một nền sản xuất nhỏ, không tính đến những điều mới trong thực tiễn, những điều kiện lịch sử cụ thể.

Bệnh giáo điều ở Việt Nam xuất hiện dưới dạng “hàn lâm”, “kinh viện”, xa rời thực tiễn, coi trọng sách vở (đến mức lạm dụng sách); nghiên cứu học tập lý luận nhưng không “tiêu hóa” được sách. Việc coi trọng (đến mức sùng bái) sách vở “kinh điển” chính là do đọc sách quá ít hoặc không đọc đến nơi đến chốn... Lối học tập đó sẽ dẫn đến sự hình thành trong tư duy một hình thức cực đoan. Trích dẫn dần dần để thay thế cho suy nghĩ, cho lập luận lôgic. Những bài viết thoạt nhìn có vẻ giống như lý luận nhưng thực chất chỉ là tổng số những trích dẫn, sao chép suy nghĩ của người khác. Hoặc lý luận chỉ là tổng số những công thức máy móc, đơn điệu, phiến diện, làm cho lý luận biến thành “màu xám”, không có sức sống, xa rời thực tiễn, không giúp ích gì trong việc lý giải, chỉ đạo thực tiễn. Từ đó, xuất hiện tư tưởng coi thường lý luận hoặc nói một đằng, làm một nẻo. Nói chỉ là nói lý luận suông, làm thì theo kinh nghiệm vụn vặt của cá nhân. Bệnh giáo điều hiện nay vẫn tồn tại không ít trong một bộ phận cán bộ, đảng viên gây hậu quả không nhỏ cho quá trình tổ chức triển khai các chỉ thị, nghị quyết của Đảng vào cuộc sống.

3. Một số giải pháp chống bệnh giáo điều trong cán bộ, đảng viên hiện nay

Tiếp tục học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Hồ Chí Minh nhằm khắc phục những hạn chế, yếu kém trong cán bộ, đảng viên; trong đó cần đấu tranh khắc phục bệnh giáo điều theo cách phong cách thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Để việc học tập, rèn luyện theo phong cách thực tiễn của Người có hiệu quả cần thực hiện một số giải pháp sau:

Thứ nhất, cần thay đổi nhận thức về việc học tập lý luận nhằm nâng cao trình độ tư duy lý luận, chống giáo điều về lý luận, tăng tính thực tiễn trong học tập lý luận.

Tăng tính thực tiễn là gắn các tri thức lý luận với thực tiễn công tác, thực tiễn đất nước, làm cho thống nhất giữa lý luận và thực tiễn nhằm tăng hiệu quả hoạt động thực tiễn công tác của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phê phán việc học tập lý luận mà không gắn với thực tiễn của cán bộ, đảng viên, là coi việc học tập lý luận chỉ để gắn cái “mác”, để có cái “bằng”, học tập để nói cho “có vẻ” lý luận; học lý luận để biết “dăm câu ba chữ” dùng làm “trang sức” hoặc để lòe người khác, chứ không để nâng cao trình độ lý luận, nâng cao trình độ tư duy lên tầm lý luận; giải thích và chỉ đạo, hướng dẫn thực tiễn bằng lý luận. Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu chống và phê phán kiểu học thuộc lòng chủ nghĩa Mác - Lênin, đó chính là cách “học sách vở Mác - Lênin nhưng không học tinh thần Mác - Lênin”(14). Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, học tập chủ nghĩa Mác-Lênin là “phải học tinh thần của chủ nghĩa Mác -Lênin, học tập lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác -Lênin để áp dụng lập trường, quan điểm và phương pháp ấy mà giải quyết cho tốt những vấn đề thực tế trong công tác cách mạng của chúng ta”(15). Như vậy, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cần phải tăng tính thực tiễn trong học tập lý luận, nghĩa là học lý luận để phục vụ thực tiễn làm việc, từ đó khắc phục được bệnh giáo điều lý luận. Người chỉ ra: “Học tập chủ nghĩa Mác - Lênin là học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình, là học tập những chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta. Học để mà làm”(16). Học tập chủ nghĩa Mác - Lênin trước hết để biết, để làm người, rồi mới làm cán bộ và phụng sự Tổ quốc, nhân dân, giai cấp. Người cán bộ, đảng viên phải có thái độ đúng đắn mới có thể khắc phục được bệnh giáo điều trong nghiên cứu, học tập lý luận. Như vậy, thay đổi nhận thức về việc học tập lý luận là quán triệt quan điểm thực tiễn để chống bệnh giáo điều trong học tập lý luận.

Thứ hai, cần vận dụng lý luận một cách sáng tạo và hiệu quả vào thực tiễn để nâng cao hiệu quả công tác.

Học tập lý luận cốt là vận dụng vào thực tiễn, phục vụ cải tạo thực tiễn, nếu không sẽ trở nên giáo điều về lý luận. Vận dụng ở đây không đơn giản là dùng những kiến thức lý luận đã học để áp dụng vào thực tế mà để phân tích, mổ xẻ thực tiễn. Phải đem những điều học được để phân tích và giải quyết các vấn đề thực tế trong công tác của bản thân mình và của Đảng, như vậy thì việc nghiên cứu, học tập, vận dụng lý luận mới có hiệu quả. Khi đem những kiến thức lý luận áp dụng vào thực tiễn phải phân tích những điều kiện cụ thể của thực tiễn để lựa chọn lý luận nào và kinh nghiệm thực tiễn nào vào cải tạo thực tiễn.

Người căn dặn cán bộ, đảng viên: Khi nghiên cứu, học tập và vận dụng kinh nghiệm của các nước vào thực tiễn cách mạng nước ta phải căn cứ vào thực tiễn đất nước để tìm ra hướng đi riêng cho mình; biết lựa chọn kinh nghiệm nào cho phù hợp, nếu không sẽ phạm phải giáo điều khi vận dụng kinh nghiệm: “Không chú trọng đến đặc điểm của dân tộc mình trong khi học tập kinh nghiệm của các nước anh em, là sai lầm nghiêm trọng, là phạm chủ nghĩa giáo điều”(17). Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu ngoài việc nâng cao nhận thức trong học tập lý luận, cán bộ, đảng viên phải luôn luôn nhấn mạnh nguyên tắc lý luận liên hệ với thực tế và tính lịch sử cụ thể khi vận dụng kinh nghiệm của các nước vào nước mình.

Thứ ba, thường xuyên tổng kết kinh nghiệm để bổ sung, hoàn thiện, phát triển lý luận, làm giàu tri thức.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải biết tổng kết kinh nghiệm thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả công tác “… công việc gì bất kỳ thành công hoặc thất bại, chúng ta cần phải nghiên cứu đến cội rễ, phân tách thật rõ ràng rồi kết luận. Kết luận đó sẽ là cái thìa khoá phát triển công việc và để giúp cho cán bộ tiến tới”(18). Người nhấn mạnh: “… cần phải nghiên cứu kinh nghiệm cũ để giúp cho thực hành mới, lại đem thực hành mới để phát triển kinh nghiệm cũ, làm cho nó đầy đủ dồi dào thêm”(19). Đó chính là quá trình tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, đúc rút kinh nghiệm để bổ sung, hoàn thiện, phát triển lý luận. Làm được như vậy có nghĩa là làm cho lý luận được “bổ sung bằng những kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn sinh động”(20). Đồng thời, thực tiễn mới sẽ được chỉ đạo, soi đường, dẫn dắt bởi lý luận mới. Đây là biểu hiện sinh động của việc quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn ở Chủ tịch Hồ Chí Minh, “tổng kết để làm cho nhận thức của chúng ta đối với các vấn đề đó được nâng cao hơn và công tác có kết quả hơn”(21).

Phong cách thực tiễn là một trong những nét nổi bật trong hệ thống phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Phong cách thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dựa trên thực tiễn và xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn Việt Nam để tiếp thu chọn lọc những gì hợp lý, đúng đắn và định hướng cho quá trình tìm ra hệ thống lý luận cũng như phương pháp cách mạng để giải quyết những vấn đề của cách mạng Việt Nam. Đó là một phong cách hành động khoa học, lấy thực tiễn là cơ sở, điểm xuất phát của quá trình nhận thức chân lý. Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, trong đó nghiên cứu và học tập phong cách thực tiễn của Người là rất cần thiết đối với mỗi người, bởi đó là phương thức góp phần loại bỏ căn bệnh giáo điều trong cán bộ, đảng viên hiện nay.

Cập nhật ngày
 
Tư tưởng Hồ Chí Minh về những yếu tố bảo đảm dân chủ thật sự PDF. In bài viết Email
Tuổi trẻ Bến Tre làm theo lời Bác
Tác giả: Nguồn http://lyluanchinhtri.vn   

Dân chủ là động lực để phát huy sức mạnh của quần chúng nhân dân giành thắng lợi trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Dân chủ, hay quyền làm chủ của nhân dân đã được đề cập nhiều trong các bài nói, bài viết của Hồ Chí Minh. Người không chỉ nói đến dân chủ, dân làm chủ, mà quan trọng hơn là nói đến dân chủ thật sự, hay “mở rộng dân chủ”, “dân chủ chân chính”, “dân chủ rộng rãi”, tức không chỉ coi dân chủ là mục tiêu mà còn coi dân chủ là phương pháp hay động lực nhằm hiện thực hóa mục tiêu.

 

Theo Người, nhân dân vừa “là chủ” lại vừa “làm chủ”, nói đến dân chủ là phải nói đến việc xác định các mục tiêu - tiêu chí của dân chủ, và đề ra các phương pháp thực hiện các mục tiêu của dân chủ. Hồ Chí Minh yêu cầu phải xác định rõ các mục tiêu của dân chủ như “Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”(1); phải đề ra được các phương pháp thực hiện các mục tiêu dân chủ như: “thực hành dân chủ rộng rãi”, hay cần phải “Mở rộng dân chủ”(2). Dân chủ có thực chất hay không phụ thuộc vào nhận thức, và sự vận dụng các vấn đề lý luận, phương pháp của đội ngũ cán bộ. Cụ thể là các vấn đề sau:

 

Thứ nhất , nhận thức của đội ngũ cán bộ về sự hiểu biết lý luận về dân chủ và vận dụng vào thực hành dân chủ

 

Để bảo đảm dân chủ thật sự, theo Hồ Chí Minh, trước hết, đội ngũ cán bộ phải hiểu biết lý luận về dân chủ; chẳng hạn, sự hiểu biết về dân chủ trong chính trị, kinh tế, dân chủ trực tiếp, gián tiếp, hay dân chủ trong lãnh đạo, quản lý… Người nhiều lần chỉ rõ, người cách mạng phải có hiểu biết, nắm vững lý luận, am hiểu thực tiễn, có như vậy cách mạng mới thành công.

 

Theo Hồ Chí Minh, lý luận phải luôn gắn với thực tiễn, lý luận mà không gắn với thực tiễn là lý luận suông; thực tiễn mà không dựa trên cơ sở lý luận là thực tiễn mù quáng. Người chỉ rõ: “không thực hành thì nhất định không thể hiểu biết”(3), “thực hành mới là mực thước đúng nhất cho sự hiểu biết con người và thế giới. Chỉ có quá trình thực hành...., người ta mới đạt được kết quả đã dự tính trong tư tưởng, và lúc đó sự hiểu biết mới được chứng thực”(4). Do đó, việc xác định mục tiêu, đề ra các phương pháp thực hiện mục tiêu dân chủ cần phải dựa trên cơ sở lý luận, thực tiễn về dân chủ. Chẳng hạn, làm thế nào để bảo đảm dân chủ (công bằng về quyền lợi - quyền lực và lợi ích) giữa thiểu số và đa số, tức làm thế nào để bảo đảm công bằng về quyền lợi giữa thiểu số cán bộ (đầy tớ) trong bộ máy nhà nước và đông đảo nhân dân (công dân) trong xã hội. Việc nhận thức đúng đắn vấn đề lý luận, thực tiễn, mục tiêu, phương pháp bảo đảm sự công bằng về quyền lợi cho thiểu số, đa số được coi là cơ sở quan trọng để đội ngũ cán bộ có thể đạt được dân chủ thật sự. Hồ Chí Minh đã từng phê phán việc kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, hay kết hợp giữa việc xác định các mục tiêu và đề ra phương pháp thực hiện chưa thật tốt của đội ngũ cán bộ. Người nói rằng: “Việc kết hợp chân lý của chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng của cách mạng Việt Nam chưa được hoàn toàn. Có nhiều sai lầm là do sự thiếu kết hợp đó. Ví dụ như sai lầm trong cải cách ruộng đất, chỉnh đốn tổ chức, xây dựng kinh tế”(5).

 

Thứ hai , việc nhận thức và xác định đúng đắn các mục tiêu dân chủ trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

 

Các mục tiêu dân chủ trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc được Hồ Chí Minh coi là các tiêu chí quan trọng hàng đầu để đạt được dân chủ thật sự. Theo Hồ Chí Minh, dân là chủ được thể hiện ở mục tiêu xây dựng một nhà nước dân chủ - nhà nước bảo đảm quyền dân chủ, vì hạnh phúc của nhân dân. Người viết rằng: “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”(6). Dân là chủ có nghĩa là người dân có địa vị cao nhất về quyền lực trong quốc gia, được hưởng sự công bằng về quyền lợi trong quốc gia. Bởi cách mạng giành độc lập dân tộc, xây dựng xã hội mới tốt đẹp cũng đều chỉ nhằm đạt được các mục tiêu dân chủ, bảo đảm công bằng xã hội. Mục tiêu của cách mạng dân tộc, dân chủ cũng chính là để bảo đảm cho nhân dân trở thành chủ nhân của đất nước. Người nêu rõ: “Nhân dân là ông chủ nắm chính quyền. Nhân dân bầu ra đại biểu thay mặt mình thi hành chính quyền ấy”(7). Việc xác định đúng đắn các mục tiêu như vậy có vai trò cực kỳ quan trọng để đạt được dân chủ thật sự.

 

Theo Hồ Chí Minh, các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra cần phải xác định rõ cho từng đối tượng. Người nêu rõ: “Dân là chủ thì Chính phủ phải là đầy tớ”(8). Nếu đội ngũ cán bộ không xác định rõ nhiệm vụ, hay xác định không rõ “Cách làm việc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”(9) cũng sẽ không thể đạt được dân chủ thật sự.

 

Theo Hồ Chí Minh, để xác định đúng đắn các mục tiêu của cách mạng giành độc lập dân tộc, xây dựng xã hội mới ở Việt Nam, còn cần phải xây dựng một “đảng cách mệnh chân chính” - Đảng biết vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể ở Việt Nam. Người nói: “Học chủ nghĩa Mác - Lênin để phân tích và giải quyết các vấn đề cụ thể của cách mạng nước ta, cho hợp với điều kiện đặc biệt của nước ta”(10). Người còn nói rằng, đảng cách mạng phù hợp với nước ta thì đó phải là “Đảng Dân tộc Việt Nam” - “Đảng của toàn dân”(11), tức Đảng phải có đạo đức và văn minh, thật sự là Đảng của dân, do dân, vì dân.

 

Thứ ba , việc đề ra các phương pháp dân chủ thực hiện hiệu quả các mục tiêu trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

 

Các phương pháp dân chủ thực hiện các mục tiêu trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thể hiện ở việc đạt được sự thống nhất trong các quan điểm, nhận thức về nhân dân làm chủ, sự hợp tác và có phương pháp dân chủ trong lãnh đạo, đặc biệt là có phương pháp, hình thức đấu tranh nội bộ, tức đấu tranh giữa các giai cấp, lực lượng chính trị, xã hội, các cá nhân trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Theo Hồ Chí Minh, dân chủ thật sự thể hiện chủ yếu ở “dân chủ rộng rãi”, “dân chủ đến cao độ” hay “mở rộng dân chủ”, trong Đảng hay ngoài xã hội thì đều phải “thực hành dân chủ rộng rãi”(12). Đồng thời, Người cũng chỉ rõ: “Để làm cho Đảng mạnh thì phải mở rộng dân chủ”(13). Đảng muốn mạnh (được lòng dân) thì cần phải phát huy dân chủ, tức phát huy vai trò của mọi giai cấp, tầng lớp nhân dân trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Người nêu rõ: "Việc gì cũng phải học hỏi và bàn bạc với dân chúng"; "đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận... Nghị quyết gì mà dân chúng cho là không hợp thì để họ đề nghị sửa chữa"(14).

 

Theo Hồ Chí Minh, mở rộng dân chủ hay thực hành dân chủ rộng rãi chính là một chiều cạnh của dân chủ thật sự, bởi các phương pháp đó tạo ra không gian cởi mở, làm cho mọi người dân dám nói, dám nghĩ, dám làm, hăng hái cùng với cán bộ giải quyết mọi khó khăn. Người đã nêu rõ: “Thực hành dân chủ là cái thìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn”(15); và “có phát huy dân chủ đến cao độ thì mới động viên được tất cả lực lượng nhân dân để cách mạng tiến lên”(16). Điều đó có nghĩa là, để có dân chủ thật sự thì cả mục tiêu và phương pháp thực hiện trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều phải được nhân dân xây dựng và đồng lòng thực hiện. Sự đồng lòng, đoàn kết được Hồ Chí Minh coi như tiêu chí cơ bản của dân chủ thật sự.

 

Dân chủ thật sự là phải gắn với đấu tranh và có các phương pháp đấu tranh đúng đắn, tức có tính chất và hình thức dân chủ trong đấu tranh. Hồ Chí Minh cho rằng, cần phải nhận thức rõ mục tiêu và phương pháp trong đấu tranh. Cần phân biệt các hình thức đấu tranh, như đấu tranh trong kinh tế, chính trị, văn hóa; đấu tranh chính trị, ngoại giao … Thực hiện cuộc cách mạng xây dựng xã hội mới trong một quốc gia có nhiều dân tộc, giai cấp, phải nhận thức rõ đặc điểm riêng của mình, đừng thấy “người ta nói giai cấp đấu tranh, mình cũng đề ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh, mà không xét hoàn cảnh nước mình như thế nào để làm cho đúng”(17). Người đã giải thích phương pháp đấu tranh giai cấp là để “chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra cái mới mẻ, tốt tươi”(18), không có nghĩa là xóa bỏ giai cấp, hay trấn áp, triệt bỏ lợi ích và giá trị của các giai cấp trong xã hội. Các giai cấp, dân tộc, tức các lực lượng yêu nước, tuy có quan điểm, chính kiến khác nhau nhưng đều bình đẳng, tôn trọng, giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau trong phát triển, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

 

Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo luận điểm của các nhà kinh điển Mác - Lênin về phương pháp biện chứng trong đấu tranh giai cấp để bảo đảm rằng trong tiến trình xây dựng CNXH, các tầng lớp nhân dân đều là những người được làm chủ thật sự trong xã hội; đồng thời, chỉ ra các phương pháp dân chủ và chuyên chính trong đấu tranh giai cấp. Dân chủ trong đấu tranh giai cấp là cần phải tôn trọng các quan điểm, chính kiến của các giai cấp, tầng lớp nhân dân trong xã hội; tức các cán bộ, đảng viên của Đảng không được có các hành vi “dọa nạt”, “trấn áp” các quan điểm trái chiều trong xã hội, như cách nói của Hồ Chí Minh là không được “bưng bít tai mắt cấp trên; bịt mồm, bịt miệng quần chúng”(19); đồng thời, phải bảo đảm cho mỗi người dân, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, dân tộc, hễ có lòng yêu nước thì đều có thể tham gia gánh vác “việc nước”.

 

Thứ tư , việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, năng lực lãnh đạo của đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị.

 

Theo Hồ Chí Minh, Nhà nước thật sự của dân, do dân, vì dân cần phải có pháp luật (Hiến pháp và các đạo luật) và có đội ngũ cán bộ có năng lực lãnh đạo, lãnh đạo nhân dân một cách dân chủ, khéo léo. Điều đó có nghĩa, phương pháp thực hiện mục tiêu dân chủ là phải thực hành dân chủ trong tổ chức bộ máy quyền lực, đặc biệt trong hoạt động lãnh đạo của đội ngũ cán bộ. Người cho rằng, phương pháp dân chủ trong tổ chức bộ máy quyền lực phải gắn với “thần linh pháp quyền”(20), tức trong Nhà nước - quốc gia rất cần phải có pháp quyền. Trong quốc gia, có pháp quyền thì mới bảo đảm được dân chủ thật sự, tức dân chủ và pháp quyền phải đi đôi, gắn liền với nhau.

 

Trong Nhà nước có pháp quyền, mọi cán bộ đều phải thật sự trở thành những người “làm thuê”, tức những người làm đày tớ với các cách thức, chức năng khác nhau cho các ông chủ (nhân dân). Người từng nói rằng, trong Chính phủ, khi “dân là chủ thì Chính phủ phải là đầy tớ”. Trong thời kỳ kháng chiến và kiến quốc, Hồ Chí Minh đã phê phán “cách lãnh đạo của ta không được dân chủ”(21). Theo Người, hoạt động lãnh đạo của tập thể, cá nhân là khác nhau, cũng như hoạt động lãnh đạo là khác với hoạt động quản lý (chỉ đạo, điều hành). Do hoạt động lãnh đạo là các hoạt động làm đầy tớ, không gắn với việc sử dụng các công cụ quyền lực, nên dễ được lòng dân, tức bảo đảm dân chủ thật sự. Chính vì vậy, Người đã ít sử dụng các khái niệm “quản lý nhà nước”, “quản lý xã hội”, cũng như không sử dụng các khái niệm có sự biểu hiện về hình thức, tính chất quyền lực trong lãnh đạo, như “Đảng lãnh đạo Nhà nước”, hay “cấp ủy lãnh đạo chính quyền”,.v..v..

 

Hồ Chí Minh cũng chỉ ra rằng, lãnh đạo là phụ thuộc vào bản chất (chất lượng) tiên phong của Đảng, các đảng viên, chứ không phải phụ thuộc vào hình thức (số lượng) các đảng viên. Các đảng viên phải luôn là những người tiên phong (đi đầu) về trí tuệ (tầm nhìn) và gương mẫu về đạo đức, lối sống. Người chỉ rõ: “Lãnh đạo được hay không, là do tính cách mạng, chứ không phải do số người nhiều ít của giai cấp”(22).

 

Năng lực lãnh đạo của đội ngũ cán bộ còn thể hiện ở việc xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất nhằm quy tụ sức mạnh đoàn kết giữa các giai cấp, các đảng phái, các dân tộc trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đây cũng được coi là một biểu hiện của sự lãnh đạo khéo, dân chủ thật sự đáp ứng yêu cầu xây dựng khối đại đoàn kết như Hồ Chí Minh đã từng nói: “Đảng và Chính phủ lãnh đạo khéo thì nhân ta nhất định đoàn kết trong hòa bình cũng như trong kháng chiến”(23). Như vậy, đội ngũ cán bộ có năng lực lãnh đạo thật sự tức là họ phải tạo được sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, đoàn kết toàn xã hội. Đây được coi là các tiêu chí cơ bản để đánh giá năng lực lãnh đạo của cán bộ./.

____________________

(1), (12), (18) BCH Trung ương ĐCSVN: Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1989, tr. 50, 48, 43.

(2), (5), (10), (16), (19) Hồ Chí Minh, Sđd, t. 8, tr. 276, 498, 497, 592, 239.

(3), (4), (6) Hồ Chí Minh, Sđd, t. 6, tr. 251, 259, 498.

(7), (11), (13), (22) Hồ Chí Minh, Sđd, t. 7, tr. 218-219, 231, 241, 212.

(8), (9), (14), (17), (21) Hồ Chí Minh, Sđd, t. 5, tr. 60, 504, 297, 272, 243.

(15) Hồ Chí Minh, Sđd, t. 12, tr. 249.

(20) Hồ Chí Minh, Sđd, t. 1, tr. 438.

(23) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 10, tr. 605-606.

 

 

 

 

PGS, TS Nguyễn Hữu Đồng, Viện Chính trị học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Nguồn http://lyluanchinhtri.vn

 
«Bắt đầuLùi12345678Tiếp theoCuối»