Chào mừng các bạn đến với Website Tỉnh đoàn Bến Tre

Nhiệt liệt chào mừng Đại hội Đoàn các cấp tiến tới Đại hội đại biểu Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tỉnh Bến Tre lần thứ X, nhiệm kỳ 2017-2022               Tuổi trẻ Bến Tre phấn đấu rèn luyện trở thành người thanh niên Đồng Khởi mới "Yêu nước - Bản lĩnh - Hiếu thảo - Tình nguyện"

Học tập và làm theo lời Bác



Tuổi trẻ Bến Tre làm theo lời Bác
Nhiều hoạt động thiết thực, ý nghĩa nhân kỷ niệm 127 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh PDF. In bài viết Email
Tuổi trẻ Bến Tre làm theo lời Bác
Tác giả: Kim Đồng - Huyện đoàn Giồng Trôm   

Nhân kỷ niệm 127 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2017), các xã, thị trấn đoàn trên địa bàn huyện đã thực hiện nhiều công trình, phần việc ý nghĩa, thiết thực.

Cập nhật ngày
Đọc thêm...
 
Bến Tre sôi nổi hoạt động kỷ niệm 127 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 19/5/2017) chào mừng Đại hội Đoàn TNCS Hồ Chí Minh các cấp PDF. In bài viết Email
Tuổi trẻ Bến Tre làm theo lời Bác
Tác giả: Ban Tuyên giáo Tỉnh đoàn   
Thiết thực lập thành tích chào mừng kỷ niệm 127 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh và chào mừng Đại hội Đoàn cấp huyện, thành, phố và tương đương nhiệm kỳ 2017 – 2022, từ ngày 11/5 đến 23/5/2017 tuổi trẻ Bến Tre tổ chức đợt sinh hoạt chính trị chủ đề “Nhớ về Bác lòng ta trong sáng hơn” và quán triệt…
Cập nhật ngày
 
Đoàn Thanh niên Phường 3 phối hợp tổ chức họp mặt kỷ niệm 127 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh và sinh hoạt chuyên đề “Nhớ về Bác lòng ta trong sáng hơn” PDF. In bài viết Email
Tuổi trẻ Bến Tre làm theo lời Bác
Tác giả: Tràng Nam - Phường 3, Tp. Bến Tre   

Nhằm không ngừng nâng cao nhận thức chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên, thành viên Câu lạc bộ và đoàn viên, thanh niên về rèn luyện phẩm chất đạo đức lối sống theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Chiều ngày 18/5/2017, tại Hội trường Phường 3, Ban Chấp hành Đoàn TNCS HCM Phường 3 phối hợp Ban Tuyên giáo Đảng ủy, Ban Chủ nhiệm Câu lạc bộ “Làm theo gương Bác” Phường tổ chức họp mặt kỷ niệm 127 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh và sinh hoạt chuyên đề “Nhớ về Bác lòng ta trong sáng hơn” năm 2017. Đến tham dự chương trình có lãnh đạo Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban MTTQ, các đồng chí thành viên Ban Tuyên giáo, thành viên Câu lạc bộ “Làm theo gương Bác”, cán bộ, đảng viên, đoàn viên, thanh niên Phường 3.

Cập nhật ngày
Đọc thêm...
 
Chi bộ Tỉnh đoàn tổ chức sinh hoạt chuyên đề học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh chủ đề “Phòng chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống trong cán bộ đảng viên”. PDF. In bài viết Email
Tuổi trẻ Bến Tre làm theo lời Bác
Tác giả: Ban Tuyên giáo Tỉnh đoàn   
Thực hiện chỉ đạo của Ban Thường vụ Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh và hướng tới kỷ niệm 127 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 19/5/2017), sáng ngày 18/5/2017, Chi bộ Tỉnh đoàn tổ chức sinh hoạt chuyên đề học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh chủ đề “Phòng chống s…
Cập nhật ngày
 
Phong cách thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong đấu tranh chống bệnh giáo điều PDF. In bài viết Email
Tuổi trẻ Bến Tre làm theo lời Bác
Tác giả: ThS. Nguyễn Hồng Điệp - Bộ Quốc phòng   

Phong cách thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh là những đặc điểm riêng có trong cách nghĩ và hành động của Người. Trong đó, mọi suy nghĩ, hành động của Người luôn dựa trên thực tiễn sinh động của cuộc sống. Phong cách thực tiễn của Người là sự vận dụng nhuần nhuyễn quan điểm thực tiễn, trở thành nguyên tắc trong suy nghĩ và hành động. Học tập phong cách thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa rất lớn trong đấu tranh chống bệnh giáo điều trong cán bộ, đảng viên ở nước ta hiện nay.

1. Phong cách thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Hành trình tìm đường cứu nước và quá trình hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu hiện sâu sắc của phong cách thực tiễn. Người luôn hướng nhận thức của mình vào thực tiễn xã hội Việt Nam trong quá trình đến với chủ nghĩa Mác - Lê-nin; luôn tiếp thu, chắt lọc những yếu tố phù hợp với thực tiễn Việt Nam để giải quyết những vấn đề cách mạng Việt Nam đang đặt ra. Khi ở cương vị là lãnh đạo cao nhất của nhà nước, mặc dù phải giải quyết bộn bề công việc của chính quyền non trẻ, nhưng Người luôn luôn sâu sát thực tế, gắn bó với cơ sở, gần gũi với nhân dân. Từ năm 1955 đến năm 1965, Người đã nhiều lần đi thăm, tiếp xúc với cán bộ, bộ đội, công nhân, giáo viên, bác sĩ, nông dân, các cụ phụ lão, các cháu thanh, thiếu niên nhi đồng, các đơn vị bộ đội, thanh niên xung phong, các hợp tác xã, bệnh viện, trường học…

Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, dân tộc Việt Nam bị chế độ thực dân đặt ách thống trị và thực hiện chính sách bóc lột hà khắc. Nhân dân Việt Nam sống hết sức cơ cực, vừa chịu áp bức của phong kiến, vừa chịu ách đô hộ của thực dân. Đứng trước hoàn cảnh đất nước bị giặc ngoại xâm áp bức, với truyền thống yêu nước và ý chí đấu tranh bất khuất, các phong trào yêu nước đã nổ ra ở khắp nơi. Nhưng các phong trào đó đều thất bại vì không lôi kéo được đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia và không phản ánh đúng được xu thế của thời đại. Tình hình đó đã đặt ra yêu cầu phải tìm được con đường mới đúng đắn phù hợp cho dân tộc. Thực tiễn đó đã thôi thúc người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành không thể rập khuôn theo những lối mòn về con đường cứu nước của những bậc tiền bối, mà phải căn cứ vào những điều kiện cụ thể trong nước và thế giới để có hướng đi đúng. Trong khi đó, ở phương Tây, cuộc cách mạng tư sản diễn ra mạnh mẽ, nhân dân các nước đó đã được “tự do, bình đẳng”. Thực tiễn các nước phương Tây đã thôi thúc Người phải sang tận nơi để tìm hiểu tường tận rồi từ đó trở về “cởi ách” cho dân tộc mình. Phong cách thực tiễn của Người được thể hiện trong câu trả lời một nhà báo Liên Xô: “Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: tự do, bình đẳng, bác ái… Và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn náu đằng sau những chữ ấy”(1). Từ hoàn cảnh đất nước khi đó đã đặt ra yêu cầu bức thiết cần phải tìm ra một lối đi mới đưa cách mạng Việt Nam đi tới thắng lợi chính là điểm xuất phát trong suy nghĩ của Người để tìm ra con đường cứu nước cho dân tộc.

Suốt quá trình tìm đường cứu nước cho đến khi giành được chính quyền, lãnh đạo chính quyền, xây dựng nhà nước mới, Người luôn xuất phát từ thực tiễn để rút ra những nhận định, giải đáp những yêu cầu của thực tiễn, khái quát thành lý luận chỉ đạo hoạt động thực tiễn. Trong cuộc hành trình qua các châu lục, từ Châu Âu đến Châu Phi, Châu Mỹ La tinh, qua các nước từ Việt Nam đến Trung Quốc, Pháp, Mỹ, Anh… Người luôn muốn tìm hiểu thực tiễn cuộc sống của nhân dân lao động, bằng việc trực tiếp làm những công việc của họ. Thực tiễn cuộc sống của nhân dân các nước thuộc địa và các nước tư bản đã giúp Người có những nhận thức mới. Đó là những tài liệu sống vô cùng quý giá, chân thực cho những bài tố cáo tội ác của thực dân, là cơ sở để Người viết “Bản án chế độ thực dân Pháp”; đồng thời, là cơ sở để Người phác họa con đường cách mạng Việt Nam thể hiện trong các văn kiện quan trọng như: Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ tóm tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Những dữ liệu của thực tiễn cùng với quá trình nghiên cứu lý luận của chủ nghĩa Mác là cơ sở quan trọng giúp Người đề ra tư tưởng cách mạng tự lực cánh sinh: “Vận dụng công thức của Các Mác, chúng tôi xin nói với anh em rằng, công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện được bằng sự nỗ lực của bản thân anh em”(2). Sau này, Người tiếp tục khẳng định, một dân tộc cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập. Có thể thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn trên cơ sở của thực tiễn để đề ra lý luận giải đáp các vấn đề thực tiễn đặt ra.

Phong cách thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn được thể hiện ở việc Người luôn quán triệt quan điểm thực tiễn trong nhận thức và hành động. Khi đến với chủ nghĩa Mác, Người không áp dụng một cách máy móc, giáo điều, mà luôn đứng trên “mảnh đất hiện thực” cách mạng Việt Nam, trên nền của văn hóa phương Đông để vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin. Người luôn tư duy biện chứng, bổ sung, phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác trên cơ sở những vấn đề thực tiễn ở nước ta nói riêng và các nước phương Đông nói chung. Vì vậy, khi còn hoạt động ở nước ngoài, Người từng viết: “Dù sao cũng không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được. Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử Châu Âu. Mà Châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại. Xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông”(3). Như vậy, quan điểm thực tiễn luôn được Người quán triệt sâu sắc và triệt để, đảm bảo lý luận thống nhất với thực tiễn, bổ sung phát triển lý luận trên cơ sở thực tiễn và phù hợp với thực tiễn.

Quá trình lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng không nên coi lý luận về chủ nghĩa xã hội của chủ nghĩa Mác là kinh thánh, là những công thức có sẵn, cứng nhắc, mà phải luôn luôn xuất phát từ thực tiễn của đất nước để vận dụng lý luận đó vào nước ta cho phù hợp: “Tuy chúng ta đã có những kinh nghiệm dồi dào của các nước anh em, nhưng chúng ta không thể áp dụng những kinh nghiệm ấy một cách máy móc, bởi vì nước ta có những đặc điểm riêng của ta”(4). Với đặc điểm từ một nước nông nghiệp lạc hậu, điểm xuất phát thấp đi lên chủ nghĩa xã hội càng phải lựa chọn hình thái, bước đi thích hợp; tiến dần từng bước lên chủ nghĩa xã hội. Người nêu rõ quan điểm: "Chủ nghĩa xã hội không thể làm mau được mà phải làm dần dần”(5). Phải sử dụng đúng đắn các thành phần kinh tế, kể cả kinh tế tư bản tư nhân, các nhà tư sản. Không phải bắt ép mà thuyết phục các nhà tư sản. “Các nhà tư sản sẽ hợp tác với Chính phủ để sản xuất dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân. Phải hướng về phía ấy, mà công tư hợp doanh cũng còn phải tiến lên nữa. Các nhà tư sản sẽ thấy công tư hợp doanh có lợi, không có hại, dần dần họ thấy nhất định phải tiến lên chủ nghĩa xã hội”(6). Quan điểm nhất quán của Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất phát từ hoàn cảnh đất nước, đây là công việc to lớn “đó là cả một công tác tổ chức và giáo dục”(7). Tất cả nhân dân cố gắng thì mới tiến mau được. Nếu không xuất phát từ thực tiễn, không nhận thức sâu sắc những đặc điểm hoàn cảnh của đất nước và rập khuôn cách làm của nước ngoài thì có thể không thành công. Lựa chọn phương pháp, con đường đi phù hợp đòi hỏi phải sáng tạo. Từ tháng 7/1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Ta không thể giống Liên Xô, vì Liên Xô có phong tục tập quán khác, có lịch sử địa lý khác… Ta có thể đi con đường khác để tiến lên chủ nghĩa xã hội"(8).

Trong mọi hoàn cảnh, phong cách thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh là phương châm chỉ đạo hành động của Người, đó là phải luôn phân tích tình hình cụ thể của lịch sử, vận dụng sáng tạo lý luận vào những hoàn cảnh cụ thể để đưa ra những quyết sách đúng đắn cho cách mạng thành công. Sự phân tích cụ thể tình hình đối với toàn bộ vấn đề giải phóng dân tộc và giải phóng thuộc địa đã đưa tầm nhìn của Chủ tịch Hồ Chí Minh ghi dấu ấn vào lịch sử. Trong “Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ” gửi Quốc tế Cộng sản để kiến nghị về chiến lược và sách lược của phong trào cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cuộc đấu tranh giai cấp không diễn ra giống như ở phương Tây”(9). Quan điểm thực tiễn đã giúp Chủ tịch Hồ Chí Minh có một cái nhìn tổng quát bối cảnh xã hội và thực trạng giai cấp ở phương Đông không giống các xã hội phương Tây.

Từ tư duy biện chứng đó, Người khẳng định: Đối với các dân tộc thuộc địa ở phương Đông “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước”(10) và trong cách mạng giải phóng dân tộc, “người ta sẽ không thể làm được cho người An Nam nếu không dựa trên động lực vĩ đại và duy nhất của đời sống xã hội của họ”(11). Từ luận điểm đó, Người đã kiến nghị về cương lĩnh hành động của Quốc tế Cộng sản: “Phát động chủ nghĩa dân tộc bản xứ nhân danh Quốc tế Cộng sản… Khi chủ nghĩa dân tộc của họ thắng lợi… nhất định chủ nghĩa dân tộc ấy sẽ biến thành chủ nghĩa quốc tế”(12). Như vậy, nếu không có tư duy biện chứng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không thấy được sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc ở phương Đông, không tìm thấy động lực để đoàn kết mọi thành phần tạo ra sức mạnh to lớn mà những người cộng sản phải nắm lấy để giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh giành độc lập.

Sự vận dụng nhuần nhuyễn quan điểm thực tiễn đã tạo nên phong cách thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

2. Giá trị của phong cách thực tiễn trong khắc phục bệnh giáo điều của cán bộ, đảng viên

Trong phong cách thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh không có một biểu hiện nào của căn bệnh giáo điều. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận ra căn bệnh giáo điều này ở một số cán bộ, đảng viên, Người phê phán lối tiếp thu lý luận và kinh nghiệm theo kiểu “thuộc lòng từng câu từng chữ, đem kinh nghiệm của các nước anh em áp dụng một cách máy móc”(13). Theo Người, một số cán bộ ta chỉ biết học tập lý luận mà không liên hệ với thực tiễn, tuyệt đối hóa vai trò của tri thức lý luận, tách rời lý luận khỏi thực tiễn, lúc đó cán bộ ta tự biến mình thành “cái hòm đựng sách” - giáo điều về lý luận. Học tập và áp dụng kinh nghiệm một cách rập khuôn, máy móc, cứng nhắc, thiếu sáng tạo và không chú ý đến điều kiện lịch sử cụ thể, làm ảnh hưởng không tốt đến chất lượng, hiệu quả hoạt động cải tạo hiện thực. Bệnh giáo điều là do lối tư duy giáo điều của những người sản xuất nhỏ, trong một nền sản xuất nhỏ, không tính đến những điều mới trong thực tiễn, những điều kiện lịch sử cụ thể.

Bệnh giáo điều ở Việt Nam xuất hiện dưới dạng “hàn lâm”, “kinh viện”, xa rời thực tiễn, coi trọng sách vở (đến mức lạm dụng sách); nghiên cứu học tập lý luận nhưng không “tiêu hóa” được sách. Việc coi trọng (đến mức sùng bái) sách vở “kinh điển” chính là do đọc sách quá ít hoặc không đọc đến nơi đến chốn... Lối học tập đó sẽ dẫn đến sự hình thành trong tư duy một hình thức cực đoan. Trích dẫn dần dần để thay thế cho suy nghĩ, cho lập luận lôgic. Những bài viết thoạt nhìn có vẻ giống như lý luận nhưng thực chất chỉ là tổng số những trích dẫn, sao chép suy nghĩ của người khác. Hoặc lý luận chỉ là tổng số những công thức máy móc, đơn điệu, phiến diện, làm cho lý luận biến thành “màu xám”, không có sức sống, xa rời thực tiễn, không giúp ích gì trong việc lý giải, chỉ đạo thực tiễn. Từ đó, xuất hiện tư tưởng coi thường lý luận hoặc nói một đằng, làm một nẻo. Nói chỉ là nói lý luận suông, làm thì theo kinh nghiệm vụn vặt của cá nhân. Bệnh giáo điều hiện nay vẫn tồn tại không ít trong một bộ phận cán bộ, đảng viên gây hậu quả không nhỏ cho quá trình tổ chức triển khai các chỉ thị, nghị quyết của Đảng vào cuộc sống.

3. Một số giải pháp chống bệnh giáo điều trong cán bộ, đảng viên hiện nay

Tiếp tục học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Hồ Chí Minh nhằm khắc phục những hạn chế, yếu kém trong cán bộ, đảng viên; trong đó cần đấu tranh khắc phục bệnh giáo điều theo cách phong cách thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Để việc học tập, rèn luyện theo phong cách thực tiễn của Người có hiệu quả cần thực hiện một số giải pháp sau:

Thứ nhất, cần thay đổi nhận thức về việc học tập lý luận nhằm nâng cao trình độ tư duy lý luận, chống giáo điều về lý luận, tăng tính thực tiễn trong học tập lý luận.

Tăng tính thực tiễn là gắn các tri thức lý luận với thực tiễn công tác, thực tiễn đất nước, làm cho thống nhất giữa lý luận và thực tiễn nhằm tăng hiệu quả hoạt động thực tiễn công tác của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phê phán việc học tập lý luận mà không gắn với thực tiễn của cán bộ, đảng viên, là coi việc học tập lý luận chỉ để gắn cái “mác”, để có cái “bằng”, học tập để nói cho “có vẻ” lý luận; học lý luận để biết “dăm câu ba chữ” dùng làm “trang sức” hoặc để lòe người khác, chứ không để nâng cao trình độ lý luận, nâng cao trình độ tư duy lên tầm lý luận; giải thích và chỉ đạo, hướng dẫn thực tiễn bằng lý luận. Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu chống và phê phán kiểu học thuộc lòng chủ nghĩa Mác - Lênin, đó chính là cách “học sách vở Mác - Lênin nhưng không học tinh thần Mác - Lênin”(14). Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, học tập chủ nghĩa Mác-Lênin là “phải học tinh thần của chủ nghĩa Mác -Lênin, học tập lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác -Lênin để áp dụng lập trường, quan điểm và phương pháp ấy mà giải quyết cho tốt những vấn đề thực tế trong công tác cách mạng của chúng ta”(15). Như vậy, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cần phải tăng tính thực tiễn trong học tập lý luận, nghĩa là học lý luận để phục vụ thực tiễn làm việc, từ đó khắc phục được bệnh giáo điều lý luận. Người chỉ ra: “Học tập chủ nghĩa Mác - Lênin là học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình, là học tập những chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta. Học để mà làm”(16). Học tập chủ nghĩa Mác - Lênin trước hết để biết, để làm người, rồi mới làm cán bộ và phụng sự Tổ quốc, nhân dân, giai cấp. Người cán bộ, đảng viên phải có thái độ đúng đắn mới có thể khắc phục được bệnh giáo điều trong nghiên cứu, học tập lý luận. Như vậy, thay đổi nhận thức về việc học tập lý luận là quán triệt quan điểm thực tiễn để chống bệnh giáo điều trong học tập lý luận.

Thứ hai, cần vận dụng lý luận một cách sáng tạo và hiệu quả vào thực tiễn để nâng cao hiệu quả công tác.

Học tập lý luận cốt là vận dụng vào thực tiễn, phục vụ cải tạo thực tiễn, nếu không sẽ trở nên giáo điều về lý luận. Vận dụng ở đây không đơn giản là dùng những kiến thức lý luận đã học để áp dụng vào thực tế mà để phân tích, mổ xẻ thực tiễn. Phải đem những điều học được để phân tích và giải quyết các vấn đề thực tế trong công tác của bản thân mình và của Đảng, như vậy thì việc nghiên cứu, học tập, vận dụng lý luận mới có hiệu quả. Khi đem những kiến thức lý luận áp dụng vào thực tiễn phải phân tích những điều kiện cụ thể của thực tiễn để lựa chọn lý luận nào và kinh nghiệm thực tiễn nào vào cải tạo thực tiễn.

Người căn dặn cán bộ, đảng viên: Khi nghiên cứu, học tập và vận dụng kinh nghiệm của các nước vào thực tiễn cách mạng nước ta phải căn cứ vào thực tiễn đất nước để tìm ra hướng đi riêng cho mình; biết lựa chọn kinh nghiệm nào cho phù hợp, nếu không sẽ phạm phải giáo điều khi vận dụng kinh nghiệm: “Không chú trọng đến đặc điểm của dân tộc mình trong khi học tập kinh nghiệm của các nước anh em, là sai lầm nghiêm trọng, là phạm chủ nghĩa giáo điều”(17). Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu ngoài việc nâng cao nhận thức trong học tập lý luận, cán bộ, đảng viên phải luôn luôn nhấn mạnh nguyên tắc lý luận liên hệ với thực tế và tính lịch sử cụ thể khi vận dụng kinh nghiệm của các nước vào nước mình.

Thứ ba, thường xuyên tổng kết kinh nghiệm để bổ sung, hoàn thiện, phát triển lý luận, làm giàu tri thức.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải biết tổng kết kinh nghiệm thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả công tác “… công việc gì bất kỳ thành công hoặc thất bại, chúng ta cần phải nghiên cứu đến cội rễ, phân tách thật rõ ràng rồi kết luận. Kết luận đó sẽ là cái thìa khoá phát triển công việc và để giúp cho cán bộ tiến tới”(18). Người nhấn mạnh: “… cần phải nghiên cứu kinh nghiệm cũ để giúp cho thực hành mới, lại đem thực hành mới để phát triển kinh nghiệm cũ, làm cho nó đầy đủ dồi dào thêm”(19). Đó chính là quá trình tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, đúc rút kinh nghiệm để bổ sung, hoàn thiện, phát triển lý luận. Làm được như vậy có nghĩa là làm cho lý luận được “bổ sung bằng những kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn sinh động”(20). Đồng thời, thực tiễn mới sẽ được chỉ đạo, soi đường, dẫn dắt bởi lý luận mới. Đây là biểu hiện sinh động của việc quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn ở Chủ tịch Hồ Chí Minh, “tổng kết để làm cho nhận thức của chúng ta đối với các vấn đề đó được nâng cao hơn và công tác có kết quả hơn”(21).

Phong cách thực tiễn là một trong những nét nổi bật trong hệ thống phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Phong cách thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dựa trên thực tiễn và xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn Việt Nam để tiếp thu chọn lọc những gì hợp lý, đúng đắn và định hướng cho quá trình tìm ra hệ thống lý luận cũng như phương pháp cách mạng để giải quyết những vấn đề của cách mạng Việt Nam. Đó là một phong cách hành động khoa học, lấy thực tiễn là cơ sở, điểm xuất phát của quá trình nhận thức chân lý. Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, trong đó nghiên cứu và học tập phong cách thực tiễn của Người là rất cần thiết đối với mỗi người, bởi đó là phương thức góp phần loại bỏ căn bệnh giáo điều trong cán bộ, đảng viên hiện nay.

Cập nhật ngày
 
Tư tưởng Hồ Chí Minh về những yếu tố bảo đảm dân chủ thật sự PDF. In bài viết Email
Tuổi trẻ Bến Tre làm theo lời Bác
Tác giả: Nguồn http://lyluanchinhtri.vn   

Dân chủ là động lực để phát huy sức mạnh của quần chúng nhân dân giành thắng lợi trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Dân chủ, hay quyền làm chủ của nhân dân đã được đề cập nhiều trong các bài nói, bài viết của Hồ Chí Minh. Người không chỉ nói đến dân chủ, dân làm chủ, mà quan trọng hơn là nói đến dân chủ thật sự, hay “mở rộng dân chủ”, “dân chủ chân chính”, “dân chủ rộng rãi”, tức không chỉ coi dân chủ là mục tiêu mà còn coi dân chủ là phương pháp hay động lực nhằm hiện thực hóa mục tiêu.

 

Theo Người, nhân dân vừa “là chủ” lại vừa “làm chủ”, nói đến dân chủ là phải nói đến việc xác định các mục tiêu - tiêu chí của dân chủ, và đề ra các phương pháp thực hiện các mục tiêu của dân chủ. Hồ Chí Minh yêu cầu phải xác định rõ các mục tiêu của dân chủ như “Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”(1); phải đề ra được các phương pháp thực hiện các mục tiêu dân chủ như: “thực hành dân chủ rộng rãi”, hay cần phải “Mở rộng dân chủ”(2). Dân chủ có thực chất hay không phụ thuộc vào nhận thức, và sự vận dụng các vấn đề lý luận, phương pháp của đội ngũ cán bộ. Cụ thể là các vấn đề sau:

 

Thứ nhất , nhận thức của đội ngũ cán bộ về sự hiểu biết lý luận về dân chủ và vận dụng vào thực hành dân chủ

 

Để bảo đảm dân chủ thật sự, theo Hồ Chí Minh, trước hết, đội ngũ cán bộ phải hiểu biết lý luận về dân chủ; chẳng hạn, sự hiểu biết về dân chủ trong chính trị, kinh tế, dân chủ trực tiếp, gián tiếp, hay dân chủ trong lãnh đạo, quản lý… Người nhiều lần chỉ rõ, người cách mạng phải có hiểu biết, nắm vững lý luận, am hiểu thực tiễn, có như vậy cách mạng mới thành công.

 

Theo Hồ Chí Minh, lý luận phải luôn gắn với thực tiễn, lý luận mà không gắn với thực tiễn là lý luận suông; thực tiễn mà không dựa trên cơ sở lý luận là thực tiễn mù quáng. Người chỉ rõ: “không thực hành thì nhất định không thể hiểu biết”(3), “thực hành mới là mực thước đúng nhất cho sự hiểu biết con người và thế giới. Chỉ có quá trình thực hành...., người ta mới đạt được kết quả đã dự tính trong tư tưởng, và lúc đó sự hiểu biết mới được chứng thực”(4). Do đó, việc xác định mục tiêu, đề ra các phương pháp thực hiện mục tiêu dân chủ cần phải dựa trên cơ sở lý luận, thực tiễn về dân chủ. Chẳng hạn, làm thế nào để bảo đảm dân chủ (công bằng về quyền lợi - quyền lực và lợi ích) giữa thiểu số và đa số, tức làm thế nào để bảo đảm công bằng về quyền lợi giữa thiểu số cán bộ (đầy tớ) trong bộ máy nhà nước và đông đảo nhân dân (công dân) trong xã hội. Việc nhận thức đúng đắn vấn đề lý luận, thực tiễn, mục tiêu, phương pháp bảo đảm sự công bằng về quyền lợi cho thiểu số, đa số được coi là cơ sở quan trọng để đội ngũ cán bộ có thể đạt được dân chủ thật sự. Hồ Chí Minh đã từng phê phán việc kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, hay kết hợp giữa việc xác định các mục tiêu và đề ra phương pháp thực hiện chưa thật tốt của đội ngũ cán bộ. Người nói rằng: “Việc kết hợp chân lý của chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng của cách mạng Việt Nam chưa được hoàn toàn. Có nhiều sai lầm là do sự thiếu kết hợp đó. Ví dụ như sai lầm trong cải cách ruộng đất, chỉnh đốn tổ chức, xây dựng kinh tế”(5).

 

Thứ hai , việc nhận thức và xác định đúng đắn các mục tiêu dân chủ trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

 

Các mục tiêu dân chủ trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc được Hồ Chí Minh coi là các tiêu chí quan trọng hàng đầu để đạt được dân chủ thật sự. Theo Hồ Chí Minh, dân là chủ được thể hiện ở mục tiêu xây dựng một nhà nước dân chủ - nhà nước bảo đảm quyền dân chủ, vì hạnh phúc của nhân dân. Người viết rằng: “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”(6). Dân là chủ có nghĩa là người dân có địa vị cao nhất về quyền lực trong quốc gia, được hưởng sự công bằng về quyền lợi trong quốc gia. Bởi cách mạng giành độc lập dân tộc, xây dựng xã hội mới tốt đẹp cũng đều chỉ nhằm đạt được các mục tiêu dân chủ, bảo đảm công bằng xã hội. Mục tiêu của cách mạng dân tộc, dân chủ cũng chính là để bảo đảm cho nhân dân trở thành chủ nhân của đất nước. Người nêu rõ: “Nhân dân là ông chủ nắm chính quyền. Nhân dân bầu ra đại biểu thay mặt mình thi hành chính quyền ấy”(7). Việc xác định đúng đắn các mục tiêu như vậy có vai trò cực kỳ quan trọng để đạt được dân chủ thật sự.

 

Theo Hồ Chí Minh, các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra cần phải xác định rõ cho từng đối tượng. Người nêu rõ: “Dân là chủ thì Chính phủ phải là đầy tớ”(8). Nếu đội ngũ cán bộ không xác định rõ nhiệm vụ, hay xác định không rõ “Cách làm việc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”(9) cũng sẽ không thể đạt được dân chủ thật sự.

 

Theo Hồ Chí Minh, để xác định đúng đắn các mục tiêu của cách mạng giành độc lập dân tộc, xây dựng xã hội mới ở Việt Nam, còn cần phải xây dựng một “đảng cách mệnh chân chính” - Đảng biết vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể ở Việt Nam. Người nói: “Học chủ nghĩa Mác - Lênin để phân tích và giải quyết các vấn đề cụ thể của cách mạng nước ta, cho hợp với điều kiện đặc biệt của nước ta”(10). Người còn nói rằng, đảng cách mạng phù hợp với nước ta thì đó phải là “Đảng Dân tộc Việt Nam” - “Đảng của toàn dân”(11), tức Đảng phải có đạo đức và văn minh, thật sự là Đảng của dân, do dân, vì dân.

 

Thứ ba , việc đề ra các phương pháp dân chủ thực hiện hiệu quả các mục tiêu trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

 

Các phương pháp dân chủ thực hiện các mục tiêu trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thể hiện ở việc đạt được sự thống nhất trong các quan điểm, nhận thức về nhân dân làm chủ, sự hợp tác và có phương pháp dân chủ trong lãnh đạo, đặc biệt là có phương pháp, hình thức đấu tranh nội bộ, tức đấu tranh giữa các giai cấp, lực lượng chính trị, xã hội, các cá nhân trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Theo Hồ Chí Minh, dân chủ thật sự thể hiện chủ yếu ở “dân chủ rộng rãi”, “dân chủ đến cao độ” hay “mở rộng dân chủ”, trong Đảng hay ngoài xã hội thì đều phải “thực hành dân chủ rộng rãi”(12). Đồng thời, Người cũng chỉ rõ: “Để làm cho Đảng mạnh thì phải mở rộng dân chủ”(13). Đảng muốn mạnh (được lòng dân) thì cần phải phát huy dân chủ, tức phát huy vai trò của mọi giai cấp, tầng lớp nhân dân trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Người nêu rõ: "Việc gì cũng phải học hỏi và bàn bạc với dân chúng"; "đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận... Nghị quyết gì mà dân chúng cho là không hợp thì để họ đề nghị sửa chữa"(14).

 

Theo Hồ Chí Minh, mở rộng dân chủ hay thực hành dân chủ rộng rãi chính là một chiều cạnh của dân chủ thật sự, bởi các phương pháp đó tạo ra không gian cởi mở, làm cho mọi người dân dám nói, dám nghĩ, dám làm, hăng hái cùng với cán bộ giải quyết mọi khó khăn. Người đã nêu rõ: “Thực hành dân chủ là cái thìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn”(15); và “có phát huy dân chủ đến cao độ thì mới động viên được tất cả lực lượng nhân dân để cách mạng tiến lên”(16). Điều đó có nghĩa là, để có dân chủ thật sự thì cả mục tiêu và phương pháp thực hiện trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều phải được nhân dân xây dựng và đồng lòng thực hiện. Sự đồng lòng, đoàn kết được Hồ Chí Minh coi như tiêu chí cơ bản của dân chủ thật sự.

 

Dân chủ thật sự là phải gắn với đấu tranh và có các phương pháp đấu tranh đúng đắn, tức có tính chất và hình thức dân chủ trong đấu tranh. Hồ Chí Minh cho rằng, cần phải nhận thức rõ mục tiêu và phương pháp trong đấu tranh. Cần phân biệt các hình thức đấu tranh, như đấu tranh trong kinh tế, chính trị, văn hóa; đấu tranh chính trị, ngoại giao … Thực hiện cuộc cách mạng xây dựng xã hội mới trong một quốc gia có nhiều dân tộc, giai cấp, phải nhận thức rõ đặc điểm riêng của mình, đừng thấy “người ta nói giai cấp đấu tranh, mình cũng đề ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh, mà không xét hoàn cảnh nước mình như thế nào để làm cho đúng”(17). Người đã giải thích phương pháp đấu tranh giai cấp là để “chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra cái mới mẻ, tốt tươi”(18), không có nghĩa là xóa bỏ giai cấp, hay trấn áp, triệt bỏ lợi ích và giá trị của các giai cấp trong xã hội. Các giai cấp, dân tộc, tức các lực lượng yêu nước, tuy có quan điểm, chính kiến khác nhau nhưng đều bình đẳng, tôn trọng, giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau trong phát triển, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

 

Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo luận điểm của các nhà kinh điển Mác - Lênin về phương pháp biện chứng trong đấu tranh giai cấp để bảo đảm rằng trong tiến trình xây dựng CNXH, các tầng lớp nhân dân đều là những người được làm chủ thật sự trong xã hội; đồng thời, chỉ ra các phương pháp dân chủ và chuyên chính trong đấu tranh giai cấp. Dân chủ trong đấu tranh giai cấp là cần phải tôn trọng các quan điểm, chính kiến của các giai cấp, tầng lớp nhân dân trong xã hội; tức các cán bộ, đảng viên của Đảng không được có các hành vi “dọa nạt”, “trấn áp” các quan điểm trái chiều trong xã hội, như cách nói của Hồ Chí Minh là không được “bưng bít tai mắt cấp trên; bịt mồm, bịt miệng quần chúng”(19); đồng thời, phải bảo đảm cho mỗi người dân, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, dân tộc, hễ có lòng yêu nước thì đều có thể tham gia gánh vác “việc nước”.

 

Thứ tư , việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, năng lực lãnh đạo của đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị.

 

Theo Hồ Chí Minh, Nhà nước thật sự của dân, do dân, vì dân cần phải có pháp luật (Hiến pháp và các đạo luật) và có đội ngũ cán bộ có năng lực lãnh đạo, lãnh đạo nhân dân một cách dân chủ, khéo léo. Điều đó có nghĩa, phương pháp thực hiện mục tiêu dân chủ là phải thực hành dân chủ trong tổ chức bộ máy quyền lực, đặc biệt trong hoạt động lãnh đạo của đội ngũ cán bộ. Người cho rằng, phương pháp dân chủ trong tổ chức bộ máy quyền lực phải gắn với “thần linh pháp quyền”(20), tức trong Nhà nước - quốc gia rất cần phải có pháp quyền. Trong quốc gia, có pháp quyền thì mới bảo đảm được dân chủ thật sự, tức dân chủ và pháp quyền phải đi đôi, gắn liền với nhau.

 

Trong Nhà nước có pháp quyền, mọi cán bộ đều phải thật sự trở thành những người “làm thuê”, tức những người làm đày tớ với các cách thức, chức năng khác nhau cho các ông chủ (nhân dân). Người từng nói rằng, trong Chính phủ, khi “dân là chủ thì Chính phủ phải là đầy tớ”. Trong thời kỳ kháng chiến và kiến quốc, Hồ Chí Minh đã phê phán “cách lãnh đạo của ta không được dân chủ”(21). Theo Người, hoạt động lãnh đạo của tập thể, cá nhân là khác nhau, cũng như hoạt động lãnh đạo là khác với hoạt động quản lý (chỉ đạo, điều hành). Do hoạt động lãnh đạo là các hoạt động làm đầy tớ, không gắn với việc sử dụng các công cụ quyền lực, nên dễ được lòng dân, tức bảo đảm dân chủ thật sự. Chính vì vậy, Người đã ít sử dụng các khái niệm “quản lý nhà nước”, “quản lý xã hội”, cũng như không sử dụng các khái niệm có sự biểu hiện về hình thức, tính chất quyền lực trong lãnh đạo, như “Đảng lãnh đạo Nhà nước”, hay “cấp ủy lãnh đạo chính quyền”,.v..v..

 

Hồ Chí Minh cũng chỉ ra rằng, lãnh đạo là phụ thuộc vào bản chất (chất lượng) tiên phong của Đảng, các đảng viên, chứ không phải phụ thuộc vào hình thức (số lượng) các đảng viên. Các đảng viên phải luôn là những người tiên phong (đi đầu) về trí tuệ (tầm nhìn) và gương mẫu về đạo đức, lối sống. Người chỉ rõ: “Lãnh đạo được hay không, là do tính cách mạng, chứ không phải do số người nhiều ít của giai cấp”(22).

 

Năng lực lãnh đạo của đội ngũ cán bộ còn thể hiện ở việc xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất nhằm quy tụ sức mạnh đoàn kết giữa các giai cấp, các đảng phái, các dân tộc trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đây cũng được coi là một biểu hiện của sự lãnh đạo khéo, dân chủ thật sự đáp ứng yêu cầu xây dựng khối đại đoàn kết như Hồ Chí Minh đã từng nói: “Đảng và Chính phủ lãnh đạo khéo thì nhân ta nhất định đoàn kết trong hòa bình cũng như trong kháng chiến”(23). Như vậy, đội ngũ cán bộ có năng lực lãnh đạo thật sự tức là họ phải tạo được sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, đoàn kết toàn xã hội. Đây được coi là các tiêu chí cơ bản để đánh giá năng lực lãnh đạo của cán bộ./.

____________________

(1), (12), (18) BCH Trung ương ĐCSVN: Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1989, tr. 50, 48, 43.

(2), (5), (10), (16), (19) Hồ Chí Minh, Sđd, t. 8, tr. 276, 498, 497, 592, 239.

(3), (4), (6) Hồ Chí Minh, Sđd, t. 6, tr. 251, 259, 498.

(7), (11), (13), (22) Hồ Chí Minh, Sđd, t. 7, tr. 218-219, 231, 241, 212.

(8), (9), (14), (17), (21) Hồ Chí Minh, Sđd, t. 5, tr. 60, 504, 297, 272, 243.

(15) Hồ Chí Minh, Sđd, t. 12, tr. 249.

(20) Hồ Chí Minh, Sđd, t. 1, tr. 438.

(23) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 10, tr. 605-606.

 

 

 

 

PGS, TS Nguyễn Hữu Đồng, Viện Chính trị học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Nguồn http://lyluanchinhtri.vn

 
Ung dung tự tại - Phong cách nổi bật của Chủ tịch Hồ Chí Minh PDF. In bài viết Email
Tuổi trẻ Bến Tre làm theo lời Bác
Tác giả: PGS.TS. Trần Quang Nhiếp - Theo Tạp chí Tuyên giáo   

Ung dung tự tại, chủ động, tự tin, cụ thể, thiết thực, hiệu quả, không xa rời mục tiêu, lý tưởng lớn là đặc điểm phong cách nổi bật của Hồ Chí Minh.

Phong cách Hồ Chí Minh là phạm trù rất rộng. Chúng ta tìm thấy ở mọi suy nghĩ, việc làm, cách ứng xử với tất cả các mối quan hệ của Người trong cuộc sống. Học tập và làm theo phong cách Hồ Chí Minh không phải là sự bắt chước giản đơn, thô thiển mà là học tập về một thế giới quan, phương pháp luận khoa học, sáng tạo của một bậc đại trí, đại nhân, đại dũng.

 

Cách quan sát thế giới, nhận biết, tìm ra bản chất của thế giới khách quan, từ đó có cách ứng xử, phương pháp đúng đắn, kịp thời giải quyết những mâu thuẫn của sự vật, hiện tượng cuộc sống đặt ra một cách biện chứng, đã trở thành phong cách của nhà cách mạng vĩ đại Hồ Chí Minh. Phong cách Hồ Chí Minh là sự trải nghiệm, đúc kết những kinh nghiệm suốt cả cuộc đời hoạt động sôi nổi, đầy cam go thử thách trong mọi hoàn cảnh lịch sử của Người mà hình thành nét suy nghĩ, hành xử thông minh, sáng tạo giành thắng lợi.

 

Phong cách Hồ Chí Minh mang tầm vóc văn hóa, triết học, chính trị, tư tưởng rất cao song những điều ấy lại rất gần gũi với lối nghĩ, việc làm hàng ngày của mỗi người. Chính sự kết tinh cái bình thường, cái tự nhiên, cái bình dị với cái vĩ đại, lớn lao, cao sang đã thăng hoa thành phong cách độc đáo Hồ Chí Minh. Vì thế, đây cũng chính là điểm mà mỗi chúng ta, bất cứ ai đều có thể học tập và làm theo phong cách của Người. Những nét phong cách Hồ Chí Minh thể hiện ở xung quanh ta, ở cuộc sống, suy nghĩ, việc làm, cách ứng xử cụ thể trong cuộc sống hàng ngày của mỗi người.

 

Phong cách Hồ Chí Minh thể hiện nổi bật à làm gì cũng phải có mục đích cụ thể, thiết thực, rõ ràng và phải kiên trì, trung thành với mục tiêu, lý tưởng ấy. Khi là người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành, nhìn thấy cảnh nước mất, nhà tan, kiếp sống lầm than của đồng bào cả dân tộc trong vòng nô lệ, Người đã quyết chí ra đi tìm đường cứu nước  với chỉ một khát vọng: Tìm độc lập cho Tổ quốc tôi, tự do cho đồng bào tôi. Con đường cứu nước cũng được Nguyễn Tất Thành trăn trở, tìm một lối đi khác, phù hợp hơn so với các bậc tiền bối trước đó. Từ những năm tháng bôn ba lặn lội mấy chục năm gian khổ ở nước ngoài tìm đường cứu nước cho đến những chặng đường lãnh đạo nhân dân ta giành chính quyền năm 1945, đánh thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ biết bao gian nan, thử thách, nhưng Hồ Chí Minh vẫn đau đáu, kiên trung một khát vọng, một sứ mệnh thiêng liêng là giành độc lập cho Tổ quốc, tự do cho đồng bào. Đây là phong cách nói là làm, dù việc làm rất lớn lao trọng đại. Phong cách làm là làm đến nơi đến chốn, làm cho bằng được, dù khó khăn gian khổ đến đâu; phong cách chủ động, sáng tạo, tự tin trong công việc, biết tìm thấy sức mạnh, tìm ra con đường để đi đến toàn thắng. Phong cách Hồ Chí Minh là chủ động kiên quyết; thực tế, thiết thực, tôn trọng và tuân theo quy luật khách quan, tìm ra chân lý. Phong cách Hồ Chí Minh là tác phong cương trực, khéo léo vì mục tiêu cao cả, lớn lao. Phong cách Hồ Chí Minh là giản dị, đơn giản, dễ hiểu, dễ làm để có kết quả thiết thực, không hình thức...

 

Trong những nét phong cách, giá trị phong phú và đa dạng, sáng tạo của Hồ Chí Minh, thì hấp dẫn và thuyết phục, nhất vẫn là phong cách của vị lãnh tụ luôn ung dung, tự tại, hòa nhập với thiên nhiên trong bất cứ hoàn cảnh nào. Phong cách ấy vô cùng phong phú, mang cốt cách của một vĩ nhân luôn thấu hiểu sự đời, chủ động trong mọi hoàn cảnh, vượt khỏi giới hạn thời gian, không gian. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 giành được chính quyền, song bọn thù trong và giặc ngoài cấu kết hòng bóp chết nhà nước dân chủ nhân dân non trẻ vừa mới ra đời; cùng với tình hình khó khăn trong nước, nạn đói, chết người khủng khiếp; nền tài chính khánh kiệt; hơn 95% dân số mù chữ... đã đưa vận mệnh nước nhà ở vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”... Song trong bối cảnh đó, một Hồ Chí Minh luôn bình tĩnh, tự tin đã chủ động, bằng nhiều phương cách linh hoạt, phù hợp và hiệu quả dẫn dắt đất nước ta vượt qua tình huống hiểm nghèo đó.

 

Năm 1946, khi thực dân Pháp dã tâm xâm lược nước ta một lần nữa, Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” và Người khẳng định cuộc chiến tranh này ta nhất định thắng, địch nhất định thua, vì đây là cuộc chiến tranh “giữa nước với lửa”, và nước sẽ dập tắt lửa. Hồ Chí Minh dựa vào quy luật tự nhiên và xã hội để đi đến khẳng định chân lý tất thắng của cuộc kháng chiến chính nghĩa của dân tộc ta. Sức nước ngàn năm của dân tộc Việt Nam anh hùng sẽ dập tắt ngọn lửa hung tàn của thực dân Pháp, cho dù lúc đầu thế lực giặc Pháp có binh hùng, tướng mạnh đến đâu. Với tầm nhìn xa trông rộng, chủ động trong mọi tình huống, Hồ Chí Minh luôn đứng vững trên cái “bất biến” để ứng phó với những cái “vạn biến” của cuộc đời.

 

Ngài Pétghi Đápphơ - Tổng thư ký của Ủy ban quốc tế đấu tranh cho giải trừ quân bị và hòa bình khi đến thăm Việt Nam, gặp lãnh tụ Hồ Chí Minh, đã viết bài đăng trên báo Diễn đàn số ra ngày 12- 9-1969: “Cụ có thể mềm như một cái cung và lao thẳng tới đích như một mũi tên. Cụ vận động trăm phương ngàn kế, đánh đánh đàm đàm, kết hợp nhiệt tình với quan điểm thực tế, nhưng không bao giờ đi chệch mục tiêu của mình... Cụ yêu thơ, dùng thời gian ngồi tù làm thơ chữ Hán. Cụ bẩm sinh là con người dịu dàng và Cụ rất yêu mến trẻ em... Như biết bao người Việt Nam khác, mặc cho những sự khủng khiếp do Pháp và Mỹ gieo rắc trên đất nước Cụ, Cụ vẫn giữ được tâm hồn thư thái và không bao giờ để cho chiến tranh man rợ ảnh hưởng đến bản chất nhân đạo của Cụ”.

 

Rơne Đipét, tác giả bài báo đăng trên tờ Phong trào số ra tháng 10-1969 đã viết về Hồ Chí Minh: “Những ai muốn biết thế nào là một con người chân chính, đâu là vẻ đẹp của thế giới, đâu là sự thắng lợi của lý tưởng trên trái đất này, đâu là mùa xuân, thì phải tìm hiểu cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tìm hiểu cuộc sống mẫu mực của người anh hùng này của thời đại chúng ta”.

 

Tháng 8-1942, Hồ Chí Minh tiến hành cuộc hành trình từ núi rừng Việt Bắc sang Quảng Tây, Trung Quốc hoạt động cách mạng. Suốt hơn chục ngày đêm vượt núi băng rừng hiểm trở, bỗng Người bị cảnh sát Tưởng Giới Thạch bắt giam, bắt đầu một giai đoạn đầy ải mới đối với Người tưởng như kéo dài hàng thế kỷ. Bị cai ngục cầm tù, cùm gông, cơm không đủ ăn, nước không đủ uống, giải Người đi suốt nhà tù này sang nhà tù khác trong đói rét, nắng gắt, mưa dầm, hành hạ trong sự kham khổ cơ cực về vật chất, nhưng trái tim Người vẫn bừng bừng ngọn lửa cách mạng, vẫn rực sáng tâm hồn thơ ca, ngợi ca cảnh thiên nhiên hùng vĩ, mơ ước tới giá trị của cuộc sống tự do. Cuộc hành trình của Người là cuộc hành trình đấu tranh cho tự do, cho công lý và kiên tâm vượt qua mọi khó khăn, gian khổ.

 

Suốt mười bốn tháng bị giam cầm ở các nhà giam của tỉnh Quảng Tây, mặc dù bị ghẻ lở, chấy rận, rệp muỗi ngày đêm hành hạ khiến Người bị rụng răng, tóc bạc, mắt mờ, ốm đau kiệt sức... song chỉ một tiếng sáo của người bạn tù, một vầng trăng đỉnh núi, cảnh vợ chồng người bạn tù bên song sắt... cũng đều động đến lòng trắc ẩn sâu xa, sự rung động, cảm thông, chia sẻ của người chiến sĩ cộng sản Hồ Chí Minh chan chứa tình người.

 

Ở Hồ Chí Minh, chúng ta tìm thấy sự kết hợp hài hòa, nhuần nhuyễn, tự nhiên, uyển chuyển giữa cái cứng của sắt thép và cái mềm nhẹ của tơ bông của một con người đã để lại ân tình sâu nặng cho nhân dân. Nhà báo Úc U. Bớcsét từng viết đăng trên báo Mainichi Sinbun số ra ngày 10-9-1969: “Đồng chí Hồ Chí Minh đã cảm hóa tất cả mọi người Việt Nam từ già đến trẻ. Người là một con người thẳng thắn, khiêm tốn, giản dị... Hồ Chí Minh là người trình bày những sự việc hết sức phức tạp bằng những lời lẽ ngắn gọn, dùng những hình ảnh hết sức trong sáng khiến cho ai cũng có thể hiểu được... Ấn tượng nổi bật nhất mà bất cứ ai lần đầu tiên gặp Hồ Chủ tịch cũng đều cảm thấy là trí tuệ tập trung ở đôi mắt ngời sáng của Người, là lòng nhân đạo và sức hấp dẫn làm cho người tới thăm gần gũi ngay với Người. Ấn tượng thứ hai là khả năng đi thẳng vào cốt lõi của vấn đề bằng những lời lẽ ngắn gọn và rất trúng”.

 

Phong cách Hồ Chí Minh dựa trên nền tảng sự thông tuệ của bậc đại trí, đại nhân, đại dũng; là đức nhân hậu và thái độ ân cần, niềm nở với mọi người, hòa nhập với thiên nhiên, dù đó là già trẻ, gái trai, dân tộc, tôn giáo nào; dù là ở Việt Nam hay châu Âu hoặc phương trời xa xôi trên trái đất này. Hồ Chí Minh có vốn sống dồi dào, sự hiểu rộng biết sâu với trình độ văn hóa của một nhà chính trị, nhà cách mạng, nhà văn, nhà báo, nhà thơ lớn của Việt Nam, của thế kỷ XX. Hồ Chí Minh là người Việt Nam sống giữa người Việt Nam, xuất thân từ dân, Hồ Chí Minh làm tất cả mọi việc mà những người Việt Nam, làm trong cuộc sống thường ngày. Ở Việt Bắc, Người cũng tăng gia sản xuất, trồng rau, tiết kiệm như tất cả mọi người đang làm. Người làm các việc đó không phải kêu gọi mọi người nên phải gương mẫu, mà là vì lối sống giản dị, tác phong cần kiệm, thói quen, nếp sống tự nhiên của Người. Thành công lớn của Hồ Chí Minh là Người đã dùng uy tín của mình được xây dựng trên cơ sở đạo đức và tác phong gương mẫu, hy sinh từ việc nhỏ đến việc lớn, nhằm phụng sự cho mục tiêu giành độc lập, tự do cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân. Hồ Chí Minh không muốn ai sùng bái mình, nhưng lại hiếm có một lãnh tụ nào được nhân dân tôn kính như đối với Hồ Chí Minh như thế. Đó chính là lòng yêu mến, sự tôn kính tuyệt đối đối với Người, khi mà mọi người đều thấy có mình trong Hồ Chí Minh và Người đã hy sinh suốt cả cuộc đời cho nhân dân, cho dân tộc.

 

Tác phong ung dung tự tại, hòa mình với thiên nhiên của Hồ Chí Minh được thể hiện vô cùng sinh động ở sự chủ động, sáng tạo, tự tin luôn làm chủ mọi tình huống, luôn giành thế thắng, đứng trên mọi kẻ thù. Hồ Chí Minh chủ động đi tìm đường cứu nước bằng con đường riêng của mình để đạt tới thành công. Người vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, làm cách mạng giải phóng dân tộc cũng bằng sự sáng tạo từ thực tiễn lịch sử, truyền thống, văn hóa, con người, đất nước, dân tộc Việt Nam.

 

Ung dung tự tại, chủ động, tự tin, cụ thể, thiết thực, hiệu quả, không xa rời mục tiêu, lý tưởng lớn là đặc điểm phong cách nổi bật của Hồ Chí Minh. Người luôn lấy lợi ích của nhân dân, của đất nước, của dân tộc là chính, để đấu tranh loại bỏ mọi thế lực bạo tàn, đàn áp, tước đoạt quyền làm người chính đáng của mọi người dân, dù ở bất cứ nơi đâu. Lòng tin, sự kính phục, yêu mến của nhân dân đối với Hồ Chí Minh là lòng tin khoa học, lòng tin vững chắc trong mọi hoàn cảnh. Đúng như Ađê Xantamaria viết trong bài “Việt Nam mãi mãi có Người” đăng ở Tuần báo Cuba số ra ngày 12-9- 1969: “Trong con người Chủ tịch Hồ Chí Minh có một sức mạnh khiến người ta vững tin rằng có Người ở Việt Nam thì không thể có chuyện gì xảy ra, rằng không bao giờ vắng Người ở Việt Nam, rằng Người mãi mãi ở Việt Nam, và vì thế Việt Nam mãi mãi có Người, Việt Nam mãi mãi là của Người”.

 

 

 

PGS.TS. Trần Quang Nhiếp

Theo Tạp chí Tuyên giáo

 
Đoàn khối các Cơ quan tỉnh tổ chức Hội thi “Sáng mãi tên Người” năm 2016 PDF. In bài viết Email
Tuổi trẻ Bến Tre làm theo lời Bác
Tác giả: Thanh Trẻ   
Thiết thực chào mừng kỷ niệm 126 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 19/5/2016), ngày 17/5/2016, tại Hội trường Cục thuế, Ban Thường vụ Đoàn khối các Cơ quan tỉnh tổ chức Hội thi “Sáng mãi tên Người” năm 2016 và sinh hoạt chuyên đề “Nhớ về Bác – Lòng ta trong sáng hơn”, thu hút trên …
Cập nhật ngày
 
Bài huấn thị của Bác Hồ tại Đại hội toàn quốc Hội LHTN Việt Nam năm 1956 PDF. In bài viết Email
Tuổi trẻ Bến Tre làm theo lời Bác
Tác giả: Trích từ Những lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh; Nxb. Sự thật Hà Nội, 1958, t.IV, tr.13-17   

 

Bài huấn thị của Bác Hồ tại Đại hội toàn quốc Hội LHTN Việt Nam năm 1956

Ngày 15/10/1956, Bác Hồ đã đến dự và có bài nói chuyện với đại biểu dự Đại hội đại biểu toàn quốc Hội LHTN VIệt Nam. Nhân kỷ niệm 60 năm Ngày truyền thống của Hội LHTN Việt Nam (15/10/1956 - 15/10/2016), chúng tôi xin giới thiệu toàn văn bài huấn thị của Bác.

Bác thân ái chúc:

Toàn thể thanh niên đoàn kết, phấn đấu, mạnh dạn, vui vẻ và tiến bộ không ngừng để giúp sức xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Bác nói chuyện về những kinh nghiệm trong thời kỳ thanh niên của Bác.

Kinh nghiệm thế giới:
Bác đã kinh qua hai cuộc chiến tranh thế giới. Trong cuộc Chiến tranh thứ nhất, dù kỹ thuật máy bay và xe tăng chưa phát triển mấy, nhưng các nước giao chiến cũng bị chết người hại của rất nhiều. Tám, chín năm sau, vẫn chưa khôi phục được tình hình trước chiến tranh.
Khi chiến tranh, thực dân Pháp bắt hàng vạn thanh niên ta đi lính đánh thay cho chúng. Số đông thanh niên ấy có đi mà không có về. Sau chiến tranh, thực dân Pháp thẳng tay bóc lột nhân dân ta để bù đắp những thiệt hại do chiến tranh đã gây ra cho Pháp.
Chiến tranh đang kéo dài, thì cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Nga bùng nổ và thắng lợi.
Sau chiến tranh, bọn đế quốc ra sức bồi dưỡng lực lượng cho phát xít Đức, Ý‎, Nhật, nhằm đẩy chúng đánh bẹp Liên Xô. Không ngờ bọn phát xít quay đánh các nước đế quốc trước. Do đó mà có cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai.
Hồi đó, các thứ vũ khí mới như máy bay, xe tăng đã phát triển nhiều, Mỹ đã bắt đầu dùng bom nguyên tử ở Nhật. Kết quả là hàng chục triệu người đã thiệt mạng, hàng nghìn thành thị và hàng vạn nông thôn bị phá tan tành. Trong cuộc Chiến tranh thứ hai này, thực dân Pháp lại bắt thanh niên ta làm bia đỡ đạn cho chúng, lại vơ vét đến cùng tài sản của nhân dân ta.
Trong cả hai cuộc chiến tranh thế giới, tư bản Mỹ đã lợi dụng tình hình khó khăn của các nước để buôn bán làm giàu, nhất là bán vũ khí. Vì vậy, Mỹ đã trở nên tên trùm của phe đế quốc hiếu chiến.
Kinh nghiệm thứ nhất là: Chiến tranh chỉ đưa nhân dân thế giới đến chỗ chết chóc và bần cùng, cho nên nhân dân thế giới, nhất là thanh niên thế giới cần phải đoàn kết để chống lại chiến tranh, để gìn giữ hòa bình.
Trong 40 năm qua, ngoài hai cuộc đại chiến, thế giới có những biến đổi rất to lớn.
Trước đây 39 năm, trên thế giới chỉ có những nước tư bản và đế quốc thống trị những nước thuộc địa và nửa thuộc địa.
Từ năm 1917, cách mạng xã hội chủ nghĩa thành công ở Nga, một phần sáu quả đất thoát khỏi tư bản và phong kiến, đã xây dựng một chế độ mới, một chế độ không có người bóc lột người. Nhưng hồi đó, chế độ xã hội chủ nghĩa mới xây dựng ở một nước rất cô đơn, lại bị quân đội của 14 nước đế quốc (đứng đầu là Mỹ, Anh, Pháp) tấn công. Nhờ nhân dân đoàn kết mà Liên Xô đã thắng lợi, bọn đế quốc đã thất bại.
Từ 10 năm lại đây, đại gia đình xã hội chủ nghĩa đã từ một nước tăng đến 13 nước, trong đó có cả nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chúng ta. Và từ 200 triệu nhân dân tăng đến hơn 900 triệu.
13 nước Á-Phi trước đây là thuộc địa hoặc nửa thuộc địa, nay đã được giải phóng thành những nước độc lập, tự do, trong đó có những nước to lớn như Trung Quốc, Ấn Độ,…Tất cả các nước trên đây đều ở trong phe hòa bình gồm 1.500 triệu nhân dân, tức là hơn một nửa số nhân dân trên thế giới, trong đó một phần lớn là thanh niên.
Kinh nghiệm thứ hai là: Chủ nghĩa đế quốc ngày càng suy yếu, lực lượng xã hội chủ nghĩa và hòa bình ngày càng mạnh thêm.

Kinh nghiệm trong nước:
Cách đây 12 năm, nước ta bị thực dân Pháp rồi đến đế quốc Nhật thống trị. Nhân dân ta bị áp bức, bóc lột, cực khổ và nhục nhã vô cùng. Hễ ai nói đến yêu nước, đoàn kết, tự do là bị chúng bắt cớ, tù đày, chém, giết, trẻ không tha già không từ. Trong mấy mươi năm đấu tranh cách mạng, nhiều thanh niên đã oanh liệt hy sinh.
Riêng về mặt văn hóa là cực kỳ quan hệ đến thanh niên, bọn đế quốc đã dùng chính sách ngu dân và đưa thanh niên vào chỗ đen tối. Khi chúng cần một số người để sai khiến thì chúng nhồi sọ thanh niên ta với một thứ giáo dục nô lệ. Chính người Pháp cũng đã nhận rằng: tiệm thuốc phiện nhiều hơn trường học. Thí dụ năm 1994 cả nước từ Bắc đến Nam chỉ có 534.600 học sinh tiểu học, 7.000 học sinh trung học cấp 2 và cấp 3 kể cả học sinh Miên, Lào, Pháp và Ấn Độ, 618 sinh viên đại học.
Cả nước cộng lại chỉ có chừng 540.000 học sinh. Hơn 80% nhân dân ta mù chữ.
Ngày nay, mặc dù chúng ta còn gặp nhiều khó khăn về kinh tế, tài chính-khó khăn ấy do chế độ thực dân và mấy năm chiến tranh để lại - ở miền Bắc nước ta năm nay có :
750.000 học sinh tiểu học, chưa kể hơn 40 vạn trẻ em học vỡ lòng,
58.000 học sinh cấp 2,
6.500 học sinh cấp 3,
3.900 sinh viên đại học
11.000 học sinh chuyên nghiệp
Cộng là 829.400
Chỉ sáu tháng đầu năm nay đã có hơn 42 vạn đồng bào thoát nạn mù chữ. Và cuối năm nay, toàn thể nhân dân ở nhiều xã và thành phố sẽ đều biết đọc, biết viết; thành tích tốt đẹp ấy một phần lớn là thành tích của thanh niên ta.
Nếu không có chế độ phát xít Mỹ - Diệm ở miền Nam thì nhân dân ta nhất là thanh niên sẽ tiến bộ về mọi mặt nhiều hơn nữa và tốt đẹp hơn nữa.
Kinh nghiệm là: Miền Bắc nước ta đã từ một thuộc địa bị áp bức, bóc lột, nay đã hoàn toàn giải phóng, có một chế độ dân chủ cộng hòa. Nhân dân ta làm chủ đất nước ta. Nhiệm vụ của thanh niên ta là phải đoàn kết phấn đấu, ủng hộ chế độ của ta, hăng hái góp sức vào sự nghiệp thống nhất nước nhà.

Kinh nghiệm bản thân :
Hồi Bác thanh niên như các cháu, tình hình thế giới và tình hình trong nước rất đen tối như đã kể trên. Cho nên Bác và thanh niên hồi đó đều cùng bị áp bức, bóc lột như tất cả đồng bào khác.
Đau lòng vì dân tộc bị nô lệ, Bác đã đi đến nhiều nước ngoài làm nhiều nghề để sống, sống để tìm con đường cách mạng. Lúc đã ngoài 25 tuổi, Bác còn chưa biết Đảng là gì, Đoàn là gì, phải tìm tòi lâu dần dần mới biết. Ngày nay, chẳng những thanh niên mà các cháu nhi đồng 9, 10 tuổi đều đã biết Đảng, biết Đoàn và hiểu biết nhiều công việc khác.
Nhờ ảnh hưởng Cách mạng Tháng Mười và Cách mạng Trung Quốc, phong trào cách mạng nước ta tiến lên mạnh, Đảng và Đoàn thanh niên thành lập - lúc đó Bác đã hơn 35 tuổi. Trong mấy mươi năm, Đảng và Đoàn phải hoạt động bí mật. Địch khủng bố gắt gao và thường xuyên. Nhiều đồng chí đã hy sinh vẻ vang vì Tổ quốc, vì nhân dân, vì cách mạng.
Nhờ đường lối, chính sách của Đảng đúng, nhờ đảng viên và đoàn viên kiên quyết, dũng cảm và tin tưởng vững chắc, cho nên dù hoàn cảnh cực kỳ khó khăn, nguy hiểm, dù nhiều đồng chí đã bị bắt bớ, hy sinh, Đảng và Đoàn vẫn phát triển ngày càng mạnh. Nhờ sự giáo dục, bồi dưỡng của Đảng và Đoàn nhiều chiến sĩ, anh hùng thanh niên đã nảy nở trong cuộc Cách mạng Tháng Tám, trong cuộc toàn dân kháng chiến và trong việc xây dựng nước nhà hiện nay.
Kinh nghiệm là: Nếu so với thanh niên lớp trước, trong đó có cả Bác, thì thanh niên ta ngày nay tiến bộ hơn nhiều, sung sướng hơn nhiều.
Ngày nay, thanh niên là công dân của nước Việt Nam độc lập, tự do, có Đảng, có Đoàn của mình, có chính quyền, có Mặt trận, có quân đội của mình, là người chủ tương lai của nước nhà mình.
Chính vì là người chủ tương lai, cho nên toàn thể thanh niên ta phải đoàn kết chặt chẽ, phấn đấu anh dũng, vượt mọi khó khăn, thi đua giúp sức vào sự nghiệp xây dựng một nước nhà tốt đẹp - một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh - để mình làm chủ mai sau.
Tóm tắt kinh nghiệm của Bác là như thế.

Cuối cùng Bác chúc Đại hội thành công tốt đẹp và gửi lời thân ái chúc toàn thể thanh niên trong nước và thanh niên Việt kiều ở nước ngoài đoàn kết và tiến bộ.

(Trích từ Những lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh; Nxb. Sự thật Hà Nội, 1958, t.IV, tr.13-17)
Cập nhật ngày
 
Dương Thị Diễm Sương – Bí thư Huyện đoàn Mỏ Cày Bắc gương "Thanh niên Tiên tiến làm theo lời Bác" năm 2016 PDF. In bài viết Email
Tuổi trẻ Bến Tre làm theo lời Bác
Tác giả: Ban Tuyên giáo Tỉnh đoàn   
Đồng chí Dương Thị Diễm Sương sinh ngày 11/11/1984 Bí thư Huyện đoàn Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre Là thủ lĩnh thanh niên huyện Mỏ Cày Bắc chị Sương luôn nhận thức sâu sắc những nội dung cơ bản về giá trị to lớn của tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh; có ý thức tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo…
Cập nhật ngày
Đọc thêm...
 
«Bắt đầuLùi12345678Tiếp theoCuối»