Chào mừng các bạn đến với Website Tỉnh đoàn Bến Tre

Nhiệt liệt chào mừng Đại hội Đoàn các cấp tiến tới Đại hội đại biểu Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tỉnh Bến Tre lần thứ X, nhiệm kỳ 2017-2022               Tuổi trẻ Bến Tre phấn đấu rèn luyện trở thành người thanh niên Đồng Khởi mới "Yêu nước - Bản lĩnh - Hiếu thảo - Tình nguyện"

Học tập và làm theo lời Bác



Tuổi trẻ Bến Tre làm theo lời Bác
Những hoạt động hiệu quả cần nhân rộng trong 5 năm triển khai việc học tập là theo lời Bác PDF. In bài viết Email
Tuổi trẻ Bến Tre làm theo lời Bác
Tác giả: Ban Tuyên giáo Tỉnh đoàn   
Phát huy những kết quả đạt được từ Cuộc vận động học tập và làm theo lời Bác, từ năm 2011 đến nay, đoàn viên, thanh niên tỉnh nhà không ngừng quan tâm đẩy mạnh thực hiện các nội dung học tập, công trình phần việc làm theo lời Bác đồng thời xem đó là một trong những nội dung trọng tâm của Công tác Đo…
Cập nhật ngày
 
ĐOÀN VIÊN THANH NIÊN KHỐI DOANH NGHIỆP VỚI PHONG TRÀO HIẾN MÁU TÌNH NGUYỆN PDF. In bài viết Email
Tuổi trẻ Bến Tre làm theo lời Bác
Tác giả: Đoàn khối Doanh nghiệp tỉnh   

Ngày 14/5/2016 Ban Thường vụ Đoàn khối Doanh nghiệp tỉnh tổ chức phát động phong trào hiến máu tình nguyện đợt 2 năm 2016, đến dự có đồng chí Huỳnh Văn Công – Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ tỉnh, Phó trưởng ban Chỉ đạo vận động Hiến máu tình nguyện tỉnh Bến Tre; đồng chí Đỗ Thị Mai – Phó Bí thư Đảng ủy khối Doanh nghiệp; đồng chí Trần Văn Đức – Giám đốc Ngân hàng Nhà nước, Chi nhánh Bến Tre; đồng chí Phạm Thị Phượng – Trưởng khoa huyết học và truyền máu Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu; đồng chí Nguyễn MinhTiếu – Bí thư Đoàn khối Doanh nghiệp và đông đảo đoàn viên, thanh niên, công nhân.

Cập nhật ngày
Đọc thêm...
 
Đỗ Thị Kim Ngân - Bí thư Xã đoàn tiêu biểu trong học tập và làm theo lời Bác PDF. In bài viết Email
Tuổi trẻ Bến Tre làm theo lời Bác
Tác giả: Ban Tuyên giáo Tỉnh đoàn   
Với vai trò là Bí thư Xã Đoàn, Ngân luôn phát huy tinh thần xung kích tình nguyện, có nhiều trăn trở và tâm huyết tiếp cận, gần gũi và giúp đỡ thanh niên tại địa phương. Là người tâm huyết, nhiệt tình Ngân luôn dành thời gian nghiên cứu, trao dồi kiến thức, học tập kinh nghiệm, chủ động tạo mọi điề…
Cập nhật ngày
 
Gặp gỡ giải thưởng Kim Đồng - Phan Nguyễn Quốc Anh PDF. In bài viết Email
Tuổi trẻ Bến Tre làm theo lời Bác
Tác giả: Ban Tuyên giáo Tỉnh đoàn   
Là Chi đội trưởng lớp 6 trường THCS thị trấn huyện Chợ Lách, được sinh ra trong gia đình có ba, mẹ là giáo viên nên Quốc Anh được kế thừa nhiều phẩm chất đẹp và siêng năng học tập, từ đó giúp em có được nhiều thành tích đáng nể: Huy chương vàng Cuộc thi Olympic Tiếng anh trên Internet dành cho học s…
Cập nhật ngày
 
LÊ HOÀNG LAM – CẦN NHIỀU BÍ THƯ CHI ĐOÀN NHƯ THẾ PDF. In bài viết Email
Tuổi trẻ Bến Tre làm theo lời Bác
Tác giả: Nguyễn Phượng - HĐMCB   
Anh Lê Hoàng Lam sinh năm 1982, quê ấp Thanh Xuân 2 xã Thanh Tân, với bản tính năng động, có tinh thần cầu tiến, ham học hỏi là đoàn viên tiêu biểu, được Chi bộ ấp giới thiệu đứng vào hàng ngũ Đảng Cộng sản Việt Nam vào tháng 4 năm 2004, được đoàn viên chi đoàn tín nhiệm bầu làm Phó Bí thư Chi đoàn …
Cập nhật ngày
 
Bến Tre sôi nổi các hoạt động kỷ niệm 126 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 19/5/2016) PDF. In bài viết Email
Tuổi trẻ Bến Tre làm theo lời Bác
Tác giả: Ban Tuyên giáo Tỉnh đoàn   

Chào mừng kỷ niệm 126 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 19/5/2016), tuổi trẻ Bến Tre tổ chức đợt sinh hoạt chính trị cao điểm từ ngày 13 đến 19/5 và nhiều công trình, phần việc thanh niên được phát động.

Cập nhật ngày
Đọc thêm...
 
Đoàn trường THPT Phan Thanh Giản tổ chức Hội thi kể chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh PDF. In bài viết Email
Tuổi trẻ Bến Tre làm theo lời Bác
Tác giả: Thanh Phong - HĐBT   

Tuần qua, Đoàn trường THPT Phan Thanh Giản tổ chức Hội thi kể chuyện về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cho học sinh hai khối 10 và 11. Đến với Hội thi có các thầy cô trong BCH Đoàn trường, thầy cô trong Ban giám khảo và 26 thí sinh dự thi đại diện cho hai khối 10, 11 của nhà trường.

Hội thi đã đem lại nhiều bổ ích cho học sinh nhà trường, góp phần giáo dục nhân cách, đạo đức cao đẹp trong mỗi học sinh; những bài học về lối sống giản dị, thanh cao; về tinh thần tự giác, sự khiêm tốn, bài học về tình đoàn kết, yêu thương con người, … đã được thể hiện qua từng phần thi.

Kết quả Ban giám khảo đã chọn ra 05 tiết mục xuất sắc nhất và kể tiếp vào tiết sinh hoạt dưới cờ thứ hai đầu tuần.

 
Sinh hoạt Chi đoàn điểm chuyên đề học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh năm 2015 PDF. In bài viết Email
Tuổi trẻ Bến Tre làm theo lời Bác
Tác giả: Đoàn khối các Cơ quan tỉnh   

Ngày 30/6/2015, Chi đoàn Văn phòng Ủy ban nhân dân trực thuộc Đoàn khối các Cơ quan tỉnh tổ chức sinh hoạt Chi đoàn điểm chuyên đề học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh năm 2015 về “Trung thực, trách nhiệm, gắn bó với nhân dân, đoàn kết, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh”. Đồng chí Võ Tam Tấn – Phó Bí thư Đảng ủy Văn phòng UBND tỉnh; đồng chí Nguyễn Thị Yến – Phó Bí thư Đoàn khối các Cơ quan tỉnh; các đồng chí là Bí thư, Phó Bí thư Chi đoàn, Đoàn cơ sở trực thuộc Đoàn khối cùng các đồng chí trong Ban Chấp hành, đoàn viên Chi đoàn Văn phòng UBND tỉnh tham dự.

Cập nhật ngày
Đọc thêm...
 
Tính biểu cảm trong ngôn ngữ làm báo của Bác Hồ PDF. In bài viết Email
Tuổi trẻ Bến Tre làm theo lời Bác
Tác giả: Nguồn: www.nguoilambao.vn   

Gần nửa thế kỷ đã qua kể từ khi Bác về cõi vĩnh hằng nhưng tính hiện đại, hơi thở thời cuộc trong phong cách báo chí cũng như phong cách ngôn ngữ báo chí của Hồ Chí Minh vẫn vẹn nguyên giá trị.

Bác từng căn dặn các nhà báo: “Chúng ta muốn tuyên truyền quần chúng phải học cách nói của quần chúng mới lọt tai quần chúng”, “Nhân dân ta có truyền thống kể chuyện ngắn gọn mà lại có duyên, các chú phải học cách kể chuyện của nhân dân”. Tư tưởng nói và viết phải phù hợp với đối tượng luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt sự nghiệp báo chí cách mạng của Người. Chính vì thế, sử dụng ngôn ngữ như thế nào để đạt hiệu quả tối ưu luôn là vấn đề được Người đặc biệt quan tâm.

Khảo sát các bài báo viết bằng tiếng Việt của Bác từ 1945-1969, đăng trên các báo Sự Thật (ST), Cứu Quốc (CQ), Nhân Dân (ND), ta dễ dàng nhận thấy các thủ pháp nhằm tăng cường tính biểu cảm trong ngôn ngữ báo chí mà lí luận ngôn ngữ báo chí hiện đại đề cập đến đều đã được Người vận dụng đến độ tự nhiên, nhuần nhuyễn, hài hòa.

Sử dụng nhuần nhuyễn khẩu ngữ, từ ngữ hội thoại

“Hội thoại hóa” ngôn ngữ báo chí là xu hướng được cổ xúy của báo chí hiện đại. Những từ ngữ vốn là lời nói miệng, chỉ dùng trong sinh hoạt hàng ngày, bao gồm cả tiếng lóng và một số từ ngữ thông tục được dụng công sử dụng trong tác phẩm báo chí nhằm làm cho báo chí ngày càng gần gũi hơn với đời sống.

Trong các bài báo của Bác, đặc biệt là trong tít báo, khá nhiều yếu tố khẩu ngữ được sử dụng đạt hiệu quả biểu cảm cao. Những từ ngữ thông tục được Bác dùng trong các tiêu đề bài viết vạch trần bản chất quân xâm lược: Bọn Diệm láo toét (ND, 10.10.1955), Đế quốc Mỹ rúc xuống hầm (ND, số 3770, 26.7.1964), Quân Mỹ chết nhăn răng, tướng Mỹ nhăn răng cười (ND, số 4292, 4.1.1966), (Đại) bại tướng vét mỡ lợn đã cút về nước mẹ Hoa Kỳ (ND, số 5175, 13.6.1968)…

Các thán từ, từ ngữ mang tính bình giá trực tiếp được Bác sử dụng khi muốn công khai thái độ, bày tỏ cảm xúc trực diện trước các tình huống, sự kiện trong đời sống như: Ô hô! Tinh thần Mỹ (ST, 12.1.1952), Quốc hội ta vĩ đại thật (ND, 10.7.1960)… Ngoài ra, không ít lần bác sử dụng các từ tượng thanh mang tính khẩu ngữ trong tít báo: Uỵch (ND, số 41, 17.1.1952), Ầm (ND, 06.12.1955) mô tả sinh động sự sụp đổ thảm hại của Chính phủ Pháp, Đốp! Đốp! (được dùng 3 lần trong 3 bài khác nhau trên các báo: Cứu Quốc, số 1875, 3.8.1951, ND, 18.12.1953, ND, 1.2.1963) nhằm mô tả tiếng vả miệng khi Bác dùng lý lẽ để “giáng một cái tát” vào luận điệu xuyên tạc, mị dân của lũ bù nhìn tay sai và thực dân Pháp xâm lược.

Yếu tố khẩu ngữ được sử dụng hiệu quả đã rút ngắn khoảng cách giữa người viết (một lãnh tụ) với quần chúng nhân dân, khơi gợi trí tò mò, tạo sự phấn chấn tinh thần cho người đọc nhờ nụ cười dí dỏm, con mắt trào lộng sâu sắc của người viết…

Sử dụng cẩn trọng từ ngữ vay mượn từ tiếng nước ngoài

Bác luôn phê phán hiện tượng báo chí ta quá lạm dụng tiếng nước ngoài. Bác chủ trương chỉ sử dụng từ ngữ vay mượn tiếng Anh, tiếng Pháp, từ Hán Việt khi tiếng Việt mình không có từ đúng hơn, hay hơn để thay thế, và Người luôn là tấm gương sáng trong việc sử dụng ngôn ngữ thuần Việt. Chính vì thế, khi các yếu tố nước ngoài được sử dụng trong tác phẩm báo chí của Bác thì từ ngữ đó luôn mang hàm ý nghệ thuật và ý nghĩa chính trị rõ ràng, có giá trị biểu đạt đặc biệt.

Trong bài Thiếu óc tổ chức - một khuyết điểm lớn trong các Ủy ban nhân dân đăng trên báo Cứu Quốc, số 58, ngày 4.10.1945, bác viết: Cán bộ chăm chỉ làm việc chưa đủ, cần phải biết làm việc cho có phương pháp. Phải cần mà phải cẩn nữa. Hai từ Hán Việt “cần” và “cẩn” được Bác sử dụng theo lối gần gũi về âm, vừa gọi tên được chính xác đối tượng, vừa tạo cảm giác thú vị, dễ nhớ cho người đọc. Để đả kích vua Bảo Đại, Bác có bài: Chữ đại thêm một chấm (ND, 21.6.1954), với hàm ý, chữ đại trong tiếng Hán thêm một chấm thành chữ khuyển - Bảo Đại chẳng qua chính là chó săn của thực dân Pháp. Đúng là nụ cười thâm thúy của một nhà nho yêu nước!

Hay trong bài Taylo rồi chân cũng lo! (ND, số 3764, 20.7.1964), sau khi lên án đế quốc Mỹ vì phá vỡ hiệp định Geneve, Bác viết: Nghe nói Taylo biết nhiều tiếng nước ngoài và sẽ học tiếng Việt Nam. O.K. Như thế, ông ta sẽ hiểu rõ và thấm thía khi nghe ND Việt Nam hô to “đế quốc Mỹ cút đi!”. Còn trong bài Mỹ hoạt động hòa bình giả để mở rộng chiến tranh thật (ND, số 4296, 8.1.1996), sau khi vạch trần bộ mặt “yêu chuộng hòa bình” giả tạo của Mỹ và Johnson, Bác (với bút danh Chiến Sĩ) đã đe doạ: Đế quốc Mỹ xâm lược Nam Việt Nam và “leo thang” miền Bắc. Chúng tự động cút khỏi VN một cách có thể diện, thì hòa bình trở lại ngay, cần gì phải đi tìm. Nếu chúng chần chừ không tự động cút đi thì ND cả nước ta đoàn kết một lòng, kiên quyết chiến đấu, nhất định sẽ tống cổ chúng đi. Do you understand, Zoon? Dùng ngôn ngữ của kẻ thù để đả kích kẻ thù, vạch mặt kẻ thù, đe dọa kẻ thù, từ “O.K” (Được thôi), hay câu hỏi “Do you understand, Zoon? (Có hiểu không, Zôn?) Người dùng mới thật dứt khoát, hào hứng, tự tin, tỏ rõ tâm thế của người viết cũng như làm lan truyền mạnh mẽ tâm thế quyết chiến ấy đến toàn dân tộc.

Sáng tạo và sử dụng hiệu quả thuật ngữ

Thuật ngữ - bản thân chúng là những từ ngữ trung tính, không mang sắc thái biểu cảm. Tuy nhiên, trong các bài báo của Bác, nhiều thuật ngữ lần đầu tiên xuất hiện, được chính Người sáng tạo nên do nhu cầu gọi tên những hiện tượng, sự vật trong đời sống nhằm phục vụ cho mục đích tuyên truyền, cho sự nghiệp cách mạng. Chính vì vậy mà bên cạnh tính định danh đối tượng, nhiều thuật ngữ thể hiện tính biểu cảm cao, gần gũi với quần chúng, được quần chúng đón nhận và sử dụng như lời ăn tiếng nói hàng ngày.

Từ các bài báo của Bác, chúng ta có các từ ngữ mà Chánh mật thám Pháp - Louis Marty gọi là “ngữ vựng cộng sản mới” được định nghĩa rõ ràng và chính xác: dân vận, phê bình và tự phê bình, giặc đói, giặc dốt, tết trồng cây, trồng người, quỹ đen, quỹ trắng, bệnh máy móc, bệnh quan liêu… Thậm chí với những thuật ngữ tưởng như quá quen thuộc với chúng ta, nhưng như nhà báo Thép Mới nhận định, chính “Bác là người đầu tiên nhào nặn ngôn ngữ Việt Nam hiện đại mà chúng ta ngày nay vận dụng”, “những từ ngữ như vật chất, tinh thần, tuyên truyền, tổ chức, phản cách mệnh, hoạt đầu, bãi công, bạo động, dân chủ, tập trung, đảng, chi bộ, tổ trưởng, đồng chí, tổ chức ngang, tổ chức dọc, kinh tế, hợp tác xã mua bán, tiền vốn, lưu thông, tín dụng, tư bản… đều đã vận dụng trong sách Đường kách mệnh và báo Thanh Niên” [2, 95]. Với ngôn ngữ tiếng Việt của dân tộc, Người có công lao vô cùng to lớn trong việc khai phá, vun đắp, giữ gìn là vậy!

Sử dụng hiệu quả phương ngữ

Để vấn đề tuyên truyền gần gũi với nhân dân, Bác đã sử dụng trong các bài viết của mình nhiều phương ngữ.

Trong bài Dinh tê (ND số 46, 21.2.1952), Bác dùng từ dinh tê để chỉ những người “kém lòng tin tưởng vào lực lượng tất thắng của dân tộc”, “kém lòng tin tưởng vào sức chịu đựng của mình”. Dinh tê vốn bắt nguồn từ hai chữ “renter,” - trở vào, một thứ tiếng lóng thời đại, dùng để chỉ sự từ bỏ vùng kháng chiến để trở vào vùng thành phố tạm bị chiếm. Cắt nghĩa dinh tê bằng quan điểm của người làm cách mạng, Bác đã chỉ rõ nguyên nhân, tình trạng hiện tại và tương lai của những người dinh tê để thức tỉnh họ, khuyên họ theo kháng chiến, tin tưởng vào sự tất thắng của cách mạng.

Trong bài Lễ cưới (Bút danh Chiến Sĩ) sau khi kể câu chuyện về một lễ cưới lãng phí ở Phú Thọ, Bác đặt một câu hỏi bằng câu thơ lục bát: “Cô cán bộ, cậu sinh viên/ Xa hoa lãng phí, không phiền lòng ru?”. Ru chính là phương ngữ của một số địa phương đồng bằng Bắc Bộ. Nếu hỏi “không phiền lòng ư?”, “không phiền lòng sao?”, “không phiền lòng chăng?”… thì câu thơ đã mất hẳn sự phê phán nhẹ nhàng, tế nhị và xen một nụ cười hóm hỉnh của Bác, đồng thời, nhờ có từ để hỏi ru mà người dân vùng đồng bằng Bắc Bộ hẳn sẽ rất thích thú, sẽ nhớ, sẽ thuộc ngay câu thơ của Bác để mà tuyên truyền cho nhau về việc cần thực hành tiết kiệm, chống lãng phí khi tổ chức cưới xin trong hoàn cảnh kháng chiến.

Vận dụng khéo léo yếu tố văn học

Trong các bài báo của mình, Bác không chỉ sử dụng hiệu quả chất liệu văn học, đặc biệt là văn học dân gian mà còn sáng tác văn học để phục vụ mục đích tuyên truyền. Những câu thành ngữ, tục ngữ, câu thơ, câu ca dao hiện đại được Bác biến tấu và vận dụng hết sức linh hoạt, sáng tạo xen lẫn trong các bài báo đã nhanh chóng bám rễ trong tâm trí quần chúng nhân dân và được lưu truyền mãi.

Về việc sử dụng chất liệu văn học, do sự chi phối sâu sắc của tư tưởng tuyên truyền phải phù hợp với đối tượng nên chất liệu văn học Bác sử dụng trong báo chí giai đoạn 1945-1969 chủ yếu là văn học dân gian, vốn quen thuộc với đông đảo quần chúng nhân dân. Những câu thành ngữ, tục ngữ, câu đối, câu vè… dân gian không chỉ được dùng nguyên dạng mà thường được Bác sáng tạo lại, thêm, bớt, thay thế từ ngữ, hoặc đổi trật tự để có được diện mạo mới, tạo sự thú vị bất ngờ và hiệu quả tuyên truyền, đả kích mạnh mẽ. Vấn đề này đã có một số nhà nghiên cứu bàn đến. Ở đây, chúng tôi chỉ xin tập trung vào khía cạnh: Bác đưa yếu tố văn học vào tác phẩm báo chí như thế nào.

Bác thường xen những câu thơ ngắn, có vần có điệu vào bài viết của mình, mục đích là để người đọc dễ hiểu, dễ nhớ và dễ làm theo. Có thể nói, đây chính là chất thơ trong ngôn ngữ báo chí của Bác.

Có những bài viết, người dùng đến 3-4 câu thơ, câu nào cũng được dẫn dắt vừa ngắn gọn, mạch lạc, lại hợp lý hợp tình, vì thế mà biểu cảm. Chẳng hạn trong bài Lễ cưới, Bác kể hai câu chuyện đọc được trên báo. Câu chuyện thứ nhất về đôi thanh niên Hảo - Thắng tạm hoãn đám cưới để tham gia kháng chiến. Bác ngợi khen: Thật là: Việc công trước, việc tư sau/ Chữ duyên càng đượm, càng sâu chữ tình. Câu chuyện thứ hai kể về đám cưới dềnh dang tốn kém của chị Th. và anh B. Bác trách bằng hai câu thơ: Xin hỏi: Cô cán bộ, cậu sinh viên/ Xa hoa lãng phí, không phiền lòng ru?. Kể xong hai câu chuyện, Bác không quên khẳng định rằng trường hợp cô Th. và anh B. chỉ là rất ít, còn tác phong đúng đắn như hai đồng chí Thắng và Hảo là tuyệt đại đa số trong thanh niên ta. Và Người kết luận: Một lòng bảo vệ nước nhà/ Thanh niên như thế mới là thanh niên.

Trong bài Tự phê bình, ND số 9, 20.3.1951, Bác vào đề: Dao có mài, mới sắc/ Vàng có thui, mới trong/ Nước có lọc, mới sạch/ Người có tự phê bình, mới tiến bộ. Đảng cũng thế…

Còn trong bài Sau lũy tre xanh (ND, số 40, 10.01.1952), Bác (bút danh C.B.), sau khi lược thuật một bài viết mang tên Sau lũy tre xanh trên báo Người Xem Xét (Observateur) về việc Pháp ngày càng thất thế so với sự lớn mạnh của Việt Minh, C.B. kết luận: Sau lũy tre xanh/ Trước lũy tre xanh/ Ta đánh cho Pháp tan tành tả tơi.

Có thể kể tên rất nhiều bài báo được Bác trang điểm bằng những câu thơ, hay nói đúng hơn là những câu ca dao hiện đại, ví dụ: Thư gửi binh sĩ thuộc chính quyền miền Nam (ND, số 3578, 14.1.1964): Trên vì nước, dưới vì nhà/ Một là đắc hiếu, hai là đắc trung; Trong trần ai, ai cũng ghét ai (ND, số 2498, 20.1.1961): Chẻ hết tre rừng cao, ghi không hết tội/ Múc hết nước biển cả, rửa không sạch thù; Đế quốc Mỹ rúc xuống hầm (ND, số 3770, 26.7.1964): Lại thêm chứng cớ rõ ràng/ Đồng bào miền Nam càng đánh càng mạnh và càng thắng to v.v…

Ý tứ rõ ràng, ngôn từ giản dị, văn phong tươi sáng, các bài báo của Bác nhờ các câu thơ đậm chất tuyên truyền như thế mà vừa đại chúng vừa mang một phong cách riêng không hề trộn lẫn.

Sử dụng linh hoạt và hữu hiệu hình thức chơi chữ

Điểm đặc sắc nhất trong văn phong nói chung và phong cách ngôn ngữ báo chí nói riêng của Bác có lẽ là cái nhìn trào lộng, nụ cười hóm hỉnh mà thâm thúy được dùng rất đúng lúc, đúng chỗ và đầy ý nghĩa. Điều này dường như ngày càng vắng bóng trong báo chí hiện đại của chúng ta hiện nay. Để có được phong cách này, hình thức Bác sử dụng hữu hiệu nhất chính là chơi chữ.

Hình thức này được Bác dùng rất nhiều ở đầu đề các bài báo, tạo hiệu quả biểu cảm cao, kích thích trí tò mò và thỏa mãn tâm lý quần chúng nhân dân bởi sự gần gũi, hóm hỉnh của người viết và sức mạnh tuyên truyền, tố cáo của nội dung bài viết. Có khi, đó là hình thức chơi chữ gần âm: Quốc hội tạm thời hay quốc hội làm thối (ND, 16.12.1954). Có khi là chơi chữ vừa gần âm, vừa kết hợp yếu tố nói lái của dân gian: Hòa bình kiểu Mỹ tức là binh họa (ND, 29.6.1963), Đại bợm Giôn-xơn miệng nói hòa bình, tay vung binh hỏa (ND, số 4029, 14.4.1965). Có khi là hình thức chơi chữ đồng âm - đây là hình thức được Bác ưa dùng nhất: Trong trần ai, ai cũng ghét ai (ND, số 2498, 20.1.1961). Từ ai thứ ba dùng để ám chỉ Aixenhao (Eisenhower); Taylo rồi chân cũng lo! (ND, số 3746, 20.7.1964), Mỹ mà phong không thuần, tục không mỹ (ND, số 2031, 28.10.1959)…

Còn rất nhiều thủ pháp nữa được sử dụng trong các bài báo của Bác nhằm tăng cường tính biểu cảm cho ngôn ngữ như: Việc sử dụng số liệu và các con số, việc sử dụng dấu câu, hình thức câu hỏi, việc dẫn tài liệu phục vụ nội dung bài viết, việc dùng ẩn dụ… Tuy nhiên, trong khuôn khổ bài viết chúng tôi chỉ tìm hiểu những thủ pháp tiêu biểu nhất làm nên phong cách ngôn ngữ báo chí Hồ Chí Minh - một phong cách báo chí độc đáo, mới mẻ và hiện đại vẫn còn nguyên giá trị cho đến hôm nay.

ThS. PHẠM THỊ THÙY LINH

(Khoa Việt Nam học – Trường ĐHSP Hà Nội)

Cập nhật ngày
 
Học cách làm báo của Bác Hồ PDF. In bài viết Email
Tuổi trẻ Bến Tre làm theo lời Bác
Tác giả: Nguồn: Việt Báo   

Không chỉ là một nhà cách mạng kiệt xuất, suốt cả cuộc đời, Bác đã là một nhà báo, là người sáng lập nền báo chí cách mạng Việt Nam...

Với 150 bút danh, Bác là tác giả hàng ngàn bài báo. Phong cách viết báo của Bác là một tấm gương sáng ngời tư tưởng và bản chất cách mạng của giai cấp công nhân: dùng báo chí làm vũ khí đấu tranh cách mạng; viết báo là để tuyên truyền, vận động cách mạng; viết báo cho quảng đại quần chúng cùng đọc, văn phong giản dị, chính xác, trong sáng...

Buổi đầu đi tìm đường cứu nước, khi hoạt động tại Pháp, Bác là người sáng lập báo Le Paria (Người cùng khổ). Vừa là Chủ nhiệm kiêm Chủ bút, vừa là cây bút chính của tờ báo, Bác đã viết nhiều bài lên án chủ nghĩa thực dân, hô hào, hướng dẫn nhân dân các nước thuộc địa cùng nhau đoàn kết đứng lên giải phóng dân tộc.

Sáng lập báo Thanh niên (21-6-1925) xuất bản tại Quảng Châu, Trung Quốc đưa về nước, Bác hướng tôn chỉ mục đích của tờ báo vào nhiệm vụ tuyên truyền, giác ngộ, vận động các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ thanh niên phải đoàn kết đứng lên cứu nước, cứu nhà, tự đem sức ta mà giải phóng cho ta.

Thời gian làm Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước, Bác viết báo biểu dương người tốt, việc tốt, điển hình tiên tiến, cổ vũ các tầng lớp nhân dân hăng hái thi đua kháng chiến, kiến quốc, xây dựng con người mới, bài trừ thói hư, tật xấu...

Bác dạy chúng ta viết báo là để cho nhân dân đọc, trong đó công nông chiếm đa số, trình độ học vấn chưa cao, nên bài viết phải ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu; không nên viết theo lối “bác học”, sính dùng chữ nghĩa cầu kỳ, sáo rỗng, vay mượn, lạm dụng từ ngữ nước ngoài...

Trong một chuyến về thăm bà con nông dân ngoại thành Hà Nội đang vào mùa gặt rộ, đông đảo nữ sinh trường Trưng Vương về lao động giúp dân, Bác động viên các học sinh: ”Các cô tiểu thư Hà Nội lao động có thành tích thì chú nhà báo nầy (Bác chỉ phóng viên báo Thủ Đô) sẽ viết tin đăng lên báo của thành phố, Bác đọc báo, sẽ khen thưởng các tiểu thư”. Bác quay sang dặn nhà báo: ”Chú viết đầy đủ, không được để sót. Bác bảo chú viết đầy đủ, chứ không phải viết dài. Bài viết dài thì ai cũng ngán đọc”.

Năm 1948, trong dịp kỷ niệm Cách mạng tháng Tám, Bác đến thăm nhà máy cơ khí Hà Nội, dừng lại chăm chú xem tờ báo tường của cán bộ, công nhân nhà máy. Bác chỉ tay vào bài báo nhan đề “Ngày mai trời lại sáng” và hỏi một người đứng gần: “Thành phố giải phóng đã mấy năm rồi?”. Có người thưa rằng đã gần bốn năm, Bác liền nói: “Thế thì bài báo này viết không đúng. Trời đã sáng lâu rồi, sao lại phải đến ngày mai. Vậy hiện giờ là đêm tối à?”.

Một lần khác, Bác đến thăm khu triển lãm Vân Hồ, dừng lại xem ảnh tên lính Pháp cuối cùng rút khỏi Hà Nội qua cầu Long Biên trên báo Thủ Đô, Bác hỏi bác sĩ Trần Duy Hưng, Chủ tịch thành phố: ”Tấm ảnh này tốt. Nhưng sao lại không để tên người chụp?”. Bác nói thêm: ” Báo chí, nhất là báo hằng ngày phải có nhiều ảnh tư liệu để khi cần là có thể dùng ngay. Đăng ảnh phải đề rõ tên người chụp hoặc ghi là lấy ở đâu”...

ột lần dự họp Quốc hội, nghe Chính phủ báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch nhà nước, nêu những con số tăng phần trăm “so với trước”, Bác mỉm cười hỏi một cán bộ lãnh đạo ngồi cạnh: “Chẳng so với trước thì so với sau à?”. Bài học về những thời điểm cụ thể, không chung chung trong báo chí được Bác truyền thụ như thế.

Nêu cao trách nhiệm xã hội về bài báo mình viết, khi nào Bác cũng rất cẩn trọng, đắn đo suy nghĩ từng nội dung, từng ý tứ, từng câu chữ sao cho quần chúng nhân dân hiểu và quan tâm đọc. Những ngày đầu viết báo, muốn có một bài báo tốt, Bác phải sửa đi, sửa lại nhiều lần, lúc đầu viết dài, sau ngắn dần, rút ngắn đến mức tối đa, nhưng vẫn bảo đảm đầy đủ những nội dung quan trọng, cần thiết, thể hiện bằng văn phong ngắn gọn, trong sáng, dễ hiểu, dễ nhớ. Đã thành thói quen, kể cả lúc làm Chủ tịch nước, viết xong một bài báo, Bác thường đem đọc cho những người xung quanh kể cả nhân viên phục vụ nghe, góp ý kiến; thấy chỗ nào có người không hiểu hoặc hiểu chưa đúng thì Bác sửa ngay.

Năm 1949, Tổng bộ Việt Minh mở lớp học viết báo cách mạng đầu tiên ở nước ta mang tên Lớp Báo chí Huỳnh Thúc Kháng. Trong thư gửi lớp học, Bác viết: ”Có thể ví dụ rằng, ba tháng nay, các bạn đã học cửu chương. Còn muốn giỏi các phép tính, thì cần phải học nữa, phải học mãi. Học ở đâu, học với ai? Học trong xã hội, học nơi công tác thực tế, học ở quần chúng. Nếu các bạn viết báo mà quần chúng hiểu, quần chúng ham đọc, quần chúng khen hay, thế là các bạn tiến bộ. Trái lại, là các bạn chưa thành công”.

Bác ân cần căn dặn: ”Muốn viết báo thì cần: gần gũi quần chúng, ít nhất phải biết một thứ tiếng nước ngòai, luôn luôn gắng học tập, luôn luôn cầu tiến bộ...”.

Nguồn: Việt Báo

Cập nhật ngày
 
«Bắt đầuLùi12345678Tiếp theoCuối»