Chào mừng các bạn đến với Website Tỉnh đoàn Bến Tre

Nhiệt liệt chào mừng Đại hội Đoàn các cấp tiến tới Đại hội đại biểu Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tỉnh Bến Tre lần thứ X, nhiệm kỳ 2017-2022               Tuổi trẻ Bến Tre phấn đấu rèn luyện trở thành người thanh niên Đồng Khởi mới "Yêu nước - Bản lĩnh - Hiếu thảo - Tình nguyện"

Tuổi trẻ với hiến pháp



Tuổi trẻ với hiến pháp
ĐOÀN TRƯỜNG THPT LÊ QUÍ ĐÔN PHỐI HỢP TUYÊN TRUYỀN KIẾN THỨC PHÁP LUẬT, TỆ NẠN XÃ HỘI VÀ AN TOÀN GIAO THÔNG CHO HỌC SINH NĂM HỌC 2016 – 2017 PDF. In bài viết Email
Tuổi trẻ với hiến pháp
Tác giả: Nguyễn Thị Huỳnh Lan – Đoàn trường THPT Lê Quí Đôn   

Nhằm nâng cao nhận thức của học sinh về việc chấp hành pháp luật, đảm bảo trật tự xã hội và an toàn giao thông, Ban Chấp hành Đoàn và Ủy ban Hội LHTN Việt Nam trường THPT Lê Quí Đôn phối hợp cùng Ban Giám Hiệu và Công an huyện Bình Đại tổ chức buổi tuyên truyền kiến thức pháp luật, tệ nạn xã hội và trật tự an toàn giao thông cho các em học sinh trong năm học mới.

Cập nhật ngày
Đọc thêm...
 
Huyện đoàn Bình Đại phối hợp tổ chức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý cho cán bộ, đoàn viên, thanh niên PDF. In bài viết Email
Tuổi trẻ với hiến pháp
Tác giả: Huyện đoàn Bình Đại   

Nằm trong chuỗi hoạt động Chiến dịch Thanh niên tình nguyện hè huyện Bình Đại năm 2016, từ ngày 01-02/8/2016, Huyện đoàn phối hợp cùng Phòng Tư pháp tổ chức tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho cán bộ đoàn viên, thanh niên.Tham gia chương trình có 104 cán bộ, đoàn viên thanh niên tại các xã thuộc tiểu vùng 1 và 2 huyện Bình Đại.

Cập nhật ngày
Đọc thêm...
 
CÁC VẤN ĐỀ TRỌNG TÂM XIN Ý KIẾN NHÂN DÂN VỀ DỰ THẢO BỘ LUẬT DÂN SỰ (SỬA ĐỔI) PDF. In bài viết Email
Tuổi trẻ với hiến pháp
Tác giả: BTG Tỉnh đoàn   

CÁC VẤN ĐỀ TRỌNG TÂM

XIN Ý KIẾN NHÂN DÂN VỀ DỰ THẢO BỘ LUẬT DÂN SỰ (SỬA ĐỔI)

(Ban hành kèm theo Quyết định số  01 /QĐ-TTg ngày 02 tháng 01 năm 2015 của       Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch của Chính phủ về việc                                   tổ chức lấy ý kiến Nhân dân đối với dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi))

Cập nhật ngày
Đọc thêm...
 
Mít tinh hưởng ứng Tháng hành động phòng chống ma túy năm 2016 PDF. In bài viết Email
Tuổi trẻ với hiến pháp
Tác giả: Minh Nhựt   

Sáng ngày 22/6/2016, Ban Thường vụ Thành đoàn phối hợp Ủy ban nhân dân thành phố Bến Tre tổ chức mít tinh hưởng ứng “Tháng hành động phòng, chống ma túy” năm 2016. Đồng chí Nguyễn Văn Thương – Phó Chủ tịch UBND thành phố Bến Tre; đại diện Công an tỉnh Bến Tre; các đồng chí đại diện lãnh đạo cơ quan, ban ngành thành phố cùng hơn 600 cán bộ, đoàn viên, thanh niên, học sinh tham gia.

Cập nhật ngày
Đọc thêm...
 
Xã đoàn Tân Trung, huyện Mỏ Cày Nam phát huy hiệu quả mô hình Câu lạc bộ “Tuổi trẻ với pháp luật” PDF. In bài viết Email
Tuổi trẻ với hiến pháp
Tác giả: Thanh Tâm - HĐ MCN   

Nhằm tiếp tục nâng cao phát huy hoạt động mô hình Câu lạc bộ “Tuổi trẻ với pháp luật” đồng thời tạo sân chơi sinh hoạt bổ ích, góp phần tuyên truyền có hiệu quả các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, chiều ngày 29/7/2016, Ban Thường vụ Đoàn xã Tân Trung phối hợp với Ban ngành đoàn thể xã tổ chức Hội thi tuyên truyền pháp luật năm 2016.

Cập nhật ngày
Đọc thêm...
 
GIỒNG TRÔM NHIỀU HOẠT ĐỘNG TUYÊN TRUYỀN, GIÁO DỤC PHÒNG CHỐNG MA TÚY PDF. In bài viết Email
Tuổi trẻ với hiến pháp
Tác giả: Hoàng Minh - Diệu Hiền   

Sáng ngày 30/7/2016 tại Nhà văn hóa Thị trấn Giồng Trôm, Thị trấn Đoàn, Đoàn cơ sở Công an huyện, Chi đoàn Tòa án,  Chi đoàn Viện kiểm soát nhân dân huyện Giồng Trôm tổ chức phiên tòa giả định về tội phạm ma túy. Đến dự có đại diện lãnh đạo địa phương và các ban ngành đoàn thể, đặt biệt là có trên 70 đoàn viên, hội viên, thanh niên ấp khu phố.

Cập nhật ngày
Đọc thêm...
 
ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN ĐĨA TIẾNG NGHỊ ĐỊNH 46/2016/NĐ-CP PDF. In bài viết Email
Tuổi trẻ với hiến pháp
Tác giả: PHÒNG CSGT ĐƯỜNG BỘ CÔNG AN TỈNH BẾN TRE   

Qua thời gian hơn 02 năm đưa vào thực hiện, Nghị định số171/2013/NĐ-CP và Nghị định số 107/2014/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt đem lại hiệu quả cao trong công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông, góp phần làm chuyển biến tích cực từ nhận thức đến ý thức của người tham gia giao thông từng bước kéo giảm tai nạn giao thông đường bộ trên địa bàn cả nước nói chung và địa bàn tỉnh Bến Tre. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện đến nay Nghị định số171, Nghị định số 107 còn có một số nội dung không phù hợp, có những khó khăn, vướng mắc trong công tác xử lý vi phạm hành chính. Mặc dù số vụ tai nạn giao thông đường bộ đã được kéo giảm trên cả ba tiêu chí về số vụ, số người chết và số người bị thương nhưng số vụ tai nạn giao thông gây hậu quả nghiêm trọng còn xảy ra ở mức cao. Để điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung cho Nghị định số171, Nghị định số 107, ngày 26/5/2016 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 46/2016/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt thay thế Nghị định số171/2013/NĐ-CP và Nghị định số 107/2014/NĐ-CP. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ  ngày 01.8.2016.

1. Về bố cục và nội dung

1.1 Về bố cục: Nghị định số số 46 gồm có: 05 chương và 82 điều (tăng 04 điều so với Nghị định số 171 và Nghị định số 107).

1.2 Về nội dung:

- Nghị định số 46 đã quy định bổ sung mới 45 hành vi, nhóm hành vi vi phạm chưa được quy định trong NĐ 171 và NĐ 107 để điều chỉnh cho phù hợp và đáp ứng yêu cầu thực tiễn của công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông trong tình hình mới hiện nay. Những hành vi vi phạm mới được quy định bổ sung đều ở các chương, áp dụng đối với tất cả các loại phương tiện tham gia giao thông và trên các lĩnh vực cụ thể như sau:

+ Vi phạm các quy định về bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông.

+ Vi phạm trên lĩnh vực kinh doanh vận tải hàng hóa và hành khách.

+ Trách nhiệm của chủ phương tiện xe cơ giới khi Giao phương tiện hoặc để cho người làm công, người đại diện điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm.

+ Hành vi cản trở yêu cầu kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ. Trước đây xử phạt ở NĐ 167/2013/NĐ-CP cũng được đưa vào.

Ngoài ra, Nghị định 46 cũng sửa đổi, mô tả lại để làm rõ hơn đối với 105 hành vi, nhóm hành vi để việc áp dụng vào công tác lập biên bản xử lý các hành vi vi phạm được dễ dàng, đúng quy định của pháp luật. Những nội dung được sửa đổi, mô tả lại cũng toàn diện trên tất cả các lĩnh vực và đối với hầu hết các đối tượng tham gia giao thông.

2. Về chế tài xử phạt

Cũng được điều chỉnh về mức phạt tiền, hình thức phạt bổ sung đối với 115 hành vi, nhóm hành vi trong lĩnh vực giao thông đường bộ cho phù hợp với tình hình thực tế tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, bảo đảm tính giáo dục, răn đe và tính khả thi khi thực hiện. Như có hành vi vi phạm giảm mức phạt tiền, cũng có hành vi vi phạm tăng mức phạt tiền và có hành vi vi phạm tăng cả về mức phạt tiền và hình thức phạt bổ sung, các hành vi vi phạm tăng mức phạt chủ yếu là những hành vi là nguyên nhân chính dẫn đến TNGT trong thời gian qua. Cụ thể như sau:

- Nhóm hành vi vi phạm về nồng độ cồn; vi phạm về tốc độ, vi phạm trên đường cao tốc.

- Những hành vi vi phạm về quy tắc giao thông, chở hàng quá tải trọng cho phép của phương tiện.

- Nhóm hành vi chở hàng vượt quá  trọng tải cho phép của cầu, đường và các hành vi vi phạm liên quan đến kinh doanh vận tải đường bộ và kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ….

3. Về thủ tục xử phạt

3.1 Nghị định 46 đã quy định rõ hơn về hành vi vi phạm của các đối tượng bị xử phạt khi có hành vi vi phạm hành chính trên lĩnh vực giao thông đường bộ. Các đối tượng cụ thể như sau:

+ Chủ phương tiện (Bao gồm cá nhân và tổ chức) có hành vi giao phương tiện hoặc trực tiếp điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm.

+ Người điều khiển phương tiện.

+ Nhân viên phục vụ trên xe khách hoặc xe buýt.

3.2 Quy định về những đối tượng được xác định là “Chủ phương tiện” rất cụ thể giúp chúng ta xử lý các hành vi liên quan đến chủ phương tiện được thuận lợi hơn, NĐ 171, 107 có quy định nhưng không cụ thể về chủ phương tiện.

Theo Khoản 5 Điều 76 quy định: Chủ phương tiện bị xử phạt theo quy định tại Nghị định này là một trong 06 đối tượng sau đây:

Một là, Cá nhân, tổ chức đứng tên trong Giấy đăng ký xe.

Hai là, Trường hợp người điều khiển phương tiện là chồng (vợ) của cá nhân đứng tên trong Giấy đăng ký xe thì người Điều khiển phương tiện là đối tượng để áp dụng xử phạt như chủ phương tiện.

Ba là, Đối với phương tiện được thuê tài chính của tổ chức có chức năng cho thuê tài chính thì cá nhân, tổ chức thuê phương tiện là đối tượng để áp dụng xử phạt như chủ phương tiện.

Bốn là, Đối với phương tiện thuộc sở hữu của thành viên hợp tác xã và được hợp tác xã đứng tên làm thủ tục đăng ký kinh doanh vận tải bằng xe ô tô thì hợp tác xã đó là đối tượng để áp dụng xử phạt như chủ phương tiện;

Năm là, Đối với phương tiện thuê của tổ chức, cá nhân có chức năng cho thuê tài sản và được tổ chức, cá nhân thuê phương tiện đứng tên làm thủ tục đăng ký kinh doanh vận tải bằng xe ô tô thì tổ chức, cá nhân đã thuê và đứng tên làm thủ tục đăng ký kinh doanh vận tải bằng xe ô tô cho phương tiện là đối tượng để áp dụng xử phạt như chủ phương tiện;

Sáu là, Đối với phương tiện chưa làm thủ tục đăng ký xe hoặc đăng ký sang tên xe theo quy định khi mua, được cho, được tặng, được phân bổ, được Điều chuyển, được thừa kế tài sản thì cá nhân, tổ chức đã mua, được cho, được tặng, được phân bổ, được Điều chuyển, được thừa kế tài sản là đối tượng để áp dụng xử phạt như chủ phương tiện.

3.3 Nghị định số 46 đã bổ sung thêm trách nhiệm của chủ phương tiện tại Khoản 7 Điều 76 như sau:

Trong trường hợp hành vi vi phạm hành chính được phát hiện thông qua việc sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ, chủ phương tiện cơ giới đường bộ có nghĩa vụ hợp tác với cơ quan chức năng để xác định đối tượng đã điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm.

3.4 Về xử phạt hành vi vi phạm về tải trọng xe được quy định cụ thể hơn so với NĐ 171, 107 cụ thể như sau:

- Trường hợp chủ phương tiện, người điều khiển phương tiện vừa thực hiện hành vi vi phạm chở hàng vượt quá tải trọng của xe vừa vi phạm chở quá tải trọng của cầu, đường thì sẽ bị xử phạt về từng hành vi vi phạm.

- Riêng đối với những hành vi vi phạm được quy định tại:

+ Điểm d Khoản 3 Điều 33: Điều khiển xe mà tổng trọng lượng (khối lượng toàn bộ) của xe hoặc tải trọng trục xe (bao gồm cả hàng hóa xếp trên xe, người được chở trên xe) vượt quá tải trọng cho phép của cầu, đường trên 20% đến 50%, trừ trường hợp có Giấy phép lưu hành còn giá trị sử dụng.

+ Khoản 4 Điều 33:

* Điều khiển xe mà tổng trọng lượng (khối lượng toàn bộ) của xe hoặc tải trọng trục xe (bao gồm cả hàng hóa xếp trên xe, người được chở trên xe) vượt quá tải trọng cho phép của cầu, đường trên 50% đến 100%, trừ trường hợp có Giấy phép lưu hành còn giá trị sử dụng.

* Điều khiển xe có Giấy phép lưu hành còn giá trị sử dụng nhưng tổng trọng lượng (khối lượng toàn bộ) của xe hoặc tải trọng trục xe (bao gồm cả hàng hóa xếp trên xe nếu có) vượt quá quy định trong Giấy phép lưu hành.

+ Khoản 5 Điều 33: Điều khiển xe mà tổng trọng lượng (khối lượng toàn bộ) của xe hoặc tải trọng trục xe (bao gồm cả hàng hóa xếp trên xe, người được chở trên xe) vượt quá tải trọng cho phép của cầu, đường trên trên 100% đến 150%, trừ trường hợp có Giấy phép lưu hành còn giá trị sử dụng.

+ Điểm a Khoản 6 Điều 33: Điều khiển xe mà tổng trọng lượng (khối lượng toàn bộ) của xe hoặc tải trọng trục xe (bao gồm cả hàng hóa xếp trên xe, người được chở trên xe) vượt quá tải trọng cho phép của cầu, đường trên 150%, trừ trường hợp có Giấy phép lưu hành còn giá trị sử dụng.

Nếu trong trường hợp chủ phương tiện, người điều khiển phương tiện vừa thực hiện hành vi vi phạm quy định về tổng trọng lượng (khối lượng toàn bộ) của xe, vừa thực hiện hành vi vi phạm quy định về tải trọng trục xe thì bị xử phạt theo quy định của hành vi vi phạm có mức phạt tiền lớn hơn.

2. Một số hành vi vi phạm Nghị định số 46/2016/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung như sau:

1. Hành vi người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự  xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy: sử dụng ô (dù), điện thoại di động, thiết bị âm thanh được điều chỉnh tăng mức xử phạt tiền. Đây là hành vi rất phổ biến trong thời gian mà chúng ta thường gặp, hành vi này rất nguy hiểm cho người điều khiển phương tiện khi tham gia giao thông nếu khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông mà sử dụng ô (dù), điện thoại di động, thiết bị âm thanh (trừ thiết bị trợ thính) sẽ gây mất tập trung sự quan sát dễ dẫn đến va chạm với người và phương tiện khác khi tham gia giao thông. Cụ thể: Người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy mà sử dụng ô (dù), điện thoại di động, thiết bị âm thanh, (trừ thiết bị trợ thính) thì được điều chỉnh tăng mức phạt tiền từ 60.000 - 80.000 đồng (theo Nghị định số 171) lên mức phạt tiền từ 100.000 - 200.000 đồng theo Điểm o Khoản 3 Điều 6 NĐ số 46.

2. Hành vi người điều khiển xe cơ giới trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá quy định là một trong những nguyên nhân dẫn đến TNGT nhiều nhất trong thời gian qua nên cũng được điều chỉnh tăng cao về mức phạt tiền lẫn hình thức phạt bổ sung so với Nghị định 171/2013/NĐ-CP.

- Đối với trường hợp người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự xe mô tô, các loại xe tương tự xe gắn máy:

+ Khi điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 mg đến 80 mg/100 ml máu hoặc vượt quá 0,25 mg đến 0,4 mg/1 lít khí thở sẽ bị phạt tiền từ 1.000.000 đến 2.000.000đ theo theo Khoản 6, Điều 6, tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 01 đến 03 tháng theo Điểm b Khoản 12 Điều 6, tạm giữ xe đến 07 ngày  Khoản 1 Điều 78 NĐ số 46 của Chính phủ. Trong khi Nghị định số 171/2013/NĐ-CP xử phạt đối với hành vi này từ 500.000 – 1.000.000 đồng, tước quyền sủ dụng Giấy pháp lái xe 01 tháng, tạm giữ xe đến 07 ngày.

+ Nếu trong máu hoặc hơi thở của người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự xe mô tô, các loại xe tương tự xe gắn máy trên đường có nồng độ cồn vượt quá 80 mg/100 ml máu hoặc vượt quá 0,4 mg/1 lít khí thở thì sẽ bị phạt tiền từ 3.000.000 – đến 4.000.000 đồng theo Điểm c Khoản 8 Điều 6, tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 03 đến 05 tháng theo Điểm d Khoản 12 Điều 6, tạm giữ xe đến 07 ngày theo Khoản 1 Điều 78 NĐ số 46 của Chính phủ. Hành vi này đã được tăng về mức phạt tiền và hình thức phạt bổ sung so với mức phạt tiền từ 2.000.000 đến 3.000.000đ, tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 02 tháng, tạm giữ xe đến 07 ngày như Nghị định số 171/2013/NĐ-CP.

- Đối với người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô Nghị định số 46 quy định lại cụ thể, rõ ràng hơn hành vi khi tham gia giao thông trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn nhưng chưa vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc chưa vượt quá 0,25 miligam/1 lít khí thở so với quy định của Nghị định số 171/CP tăng hình thức phạt bổ sung đối với hành vi này và hành vi người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô trên đường mà trong máu và trường hợp trong hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở cụ thể như sau:

+ Khi người điều khiển xe ô tô và các loại xe có kết cấu tương tự như ô tô tham gia giao thông trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn nhưng chưa vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc chưa vượt quá 0,25 miligam/1 lít khí thở thì sẽ bị xử phạt từ 2.000.000 – 3.000.000 đồng theo Điểm a Khoản 6, tước quyền sử dụng giấy phép lái xe từ 01 đến 03 tháng theo Điểm b Khoản 12 Điều 5 và tạm giữ phương tiện đến 07 ngày theo Khoản 1 Điều 78.

+ Nếu trong máu hoặc trong hơi thở của người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự ô tô tham gia giao thông trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở thì sẽ bị xử phạt từ 7.000.000 – 8.000.000 đồng theo Điểm b Khoản 8; tước quyền sử dụng giấy phép lái xe từ 03 đến 05 tháng theo Điểm d Khoản 12 Điều 5; tạm giữ phương tiện đến 07 ngày theo Khoản 1 Điều 78.

+ Nếu người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự ô tô trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở cũng được điều chỉnh tăng mức phạt từ 10.000.000 đến 15.000.000 đồng, tước quyền sử dụng GPLX 02 tháng, tạm giữ xe đến 07 ngày theo Nghị định số 171/ CP lên mức phạt tiền từ 16.000.000 đến 18.000.000 đồng theo Điểm a Khoản 9; tước quyền sử dụng GPLX từ 04 tháng đến 06 tháng theo Điểm đ Khoản 12 Điều 5, tạm giữ phương tiện đến 07 ngày theo Khoản 1 Điều 78.

- Đối với trường hợp người điều khiển xe máy kéo, xe máy chuyên dùng có hành vi vi phạm điều khiển xe cơ giới trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá quy định cũng được điều chỉnh tăng mức phạt. Cụ thể như sau:

+ Người điều khiển xe máy kéo, xe máy chuyên dùng trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn nhưng chưa vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc chưa vượt quá 0,25 miligam/1 lít khí thở bị phạt tiền từ 400.000 đồng đến 600.000 đồng theo Điểm c Khoản 4, tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe (khi điều khiển máy kéo), chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ (khi điều khiển xe máy chuyên dùng)  từ 01 đến 03 tháng theo Điểm a Khoản 9 Điều 7. Tạm giữ phương tiện đến 07 ngày theo Khoản 1 Điều 78.

+ Trường hợp người điều khiển xe máy kéo, xe máy chuyên dùng trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở thì sẽ bị phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng  theo Điểm a Khoản 6; tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe (khi điều khiển máy kéo), chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ (khi điều khiển xe máy chuyên dùng)  từ 01 đến 03 tháng theo Điểm a Khoản 9 Điều 7. Tạm giữ phương tiện đến 07 ngày theo Khoản 1 Điều 78. Ở hành vi này Nghị định số 171 chỉ phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng và tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe (khi điều khiển máy kéo), chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ (khi điều khiển xe máy chuyên dùng) 01 tháng.

+ Nếu người điều khiển xe máy kéo, xe máy chuyên dùng trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở thì sẽ bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng theo Điểm a Khoản 7; tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe (khi điều khiển máy kéo), chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ (khi điều khiển xe máy chuyên dùng) từ 02 đến 04 tháng theo Điểm b Khoản 9 Điều 7. Tạm giữ phương tiện đến 07 ngày theo Khoản 1 Điều 78. Nghị định số 171 chỉ xử phạt đối với hành vi này là phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng, tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe (khi điều khiển máy kéo), chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ (khi điều khiển xe máy chuyên dùng) 02 tháng.

3. Hành vi khi điều khiển xe trên đường mà trong cơ thể có chất ma túy cũng là hành vi rất nguy hiểm, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình điều khiển phương tiện tham gia giao thông nên Nghị định số 46/CP cũng điều chỉnh về hình thức phạt bổ sung và tăng cao về mức phạt tiền để mang tính chất xử lý nghiêm.

* Đối với người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự như xe mô tô, xe gắn máy thì: Tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 22 tháng đến 24 tháng (trong trường hợp người điều khiển có Giấy phép lái xe) hoặc phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng (trong trường hợp người điều khiển không có Giấy phép lái xe hoặc có nhưng đang bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe) đối với người điều khiển xe trên đường mà trong cơ thể có chất ma túy theo Khoản 11 Điều 6 Nghị định số 46 của Chính phủ.

So với Nghị định số 171/2013/NĐ-CP NĐ 46 đã điều chỉnh tăng mức phạt tiền từ 2.000.000 đ đến 3.000.000đ lên mức phạt tiền từ 3.000.000đ đến 4.000.000đ (trong trường hợp người điều khiển không có Giấy phép lái xe) và điều chỉnh quy định lại hình thức phạt bổ sung là tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 24 tháng xuống còn từ 22 đến 24 tháng (trong trường hợp người điều khiển có Giấy phép lái xe).

* Tương tự đối với người điều khiển xe ô tô, các loại xe tương tự xe ôtô thì:

Tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 22 tháng đến 24 tháng (trong trường hợp có Giấy phép lái xe) hoặc phạt tiền từ 16.000.000 đồng đến 18.000.000 đồng (trong trường hợp không có Giấy phép lái xe hoặc có nhưng đang bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe) đối với người Điều khiển xe trên đường mà trong cơ thể có chất ma túy theo Khoản 11 Điều 5 NĐ số 46.

Ở Nghị định số 171 áp dụng xử phạt đối với trường hợp này là: Tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 24 tháng (trong trường hợp có Giấy phép lái xe) hoặc phạt tiền từ 8.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng (trong trường hợp không có Giấy phép lái xe hoặc có nhưng đang bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe) đối với người điều khiển xe trên đường mà trong cơ thể có chất ma túy.

4. Hành vi không chấp hành yêu cầu kiểm tra về chất ma túy, nồng độ cồn cũng được điều chỉnh và tăng về mức phạt tiền lẫn hình thức phạt bổ sung. Vì hành vi không chấp hành yêu cầu kiểm tra về chất ma túy, nồng độ cồn của người thi hành công vụ và hành vi có nồng độ cồn vượt quá quy định cũng là những hành vi nguy hiểm nên được xem xét xử phạt như nhau. Cụ thể:

* Đối với người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự xe mô tô, tương tự xe gắn máy tham gia giao thông mà không chấp hành yêu cầu kiểm tra về chất ma túy, nồng độ cồn của người kiểm soát giao thông hoặc người thi hành công vụ sẽ bị phạt tiền từ 3.000.000 – đến 4.000.000 đồng theo theo Điểm b Khoản 8; tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 03 đến 05 tháng theo Điểm d Khoản 12 Điều 6; Tạm giữ phương tiện đến 07 ngày theo Khoản 1 Điều 78 Nghị định số 46 của Chính phủ.

Mức phạt tiền này tăng cao so với mức phạt tiền từ 2.000.000 đến 3.000.000đ, tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 02 tháng như Nghị định số Nghị định số 171/2013/NĐ-CP.

* Đối với người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô khi tham gia giao thông mà không chấp hành yêu cầu kiểm tra về chất ma túy, nồng độ cồn của người kiểm soát giao thông hoặc người thi hành công vụ thì bị áp dụng mức phạt tiền từ 16.000.000 đồng đến 18.000.000 đồng theo Điểm c, Điểm b Khoản 9, tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 04 đến 06 tháng Điểm đ Khoản 12 Điều 5, tạm giữ xe đến 07 ngày theo Khoản 1 Điều 78. Đối với hành vi này Nghị định số 171 chỉ phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng, tước quyền sử dụng GPLX 02 tháng, tạm giữ xe đến 07 ngày.

5. Hành vi cản trở hoặc không chấp hành yêu cầu thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ cũng được chuyển từ Nghị định số 167/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình sang Nghị định này để việc phát hiện và xử lý được  phù hợp và dễ dàng hơn. Cụ thể, phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 8.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng đối với tổ chức thực hiện hành vi cản trở hoặc không chấp hành yêu cầu thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ theo Khoản 5 Điều 11. Tạm giữ phương tiện đến 07 ngày theo Khoản 1 Điều 78 Nghị định số 46 của Chính phủ. Ngoài ra, nếu là người điều khiển phương tiện còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 01 đến 03 tháng theo Khoản 7 Điều 11.

6. Những vi phạm quy định về tốc độ khi tham gia giao thông cũng được điều chỉnh tăng về mức phạt tiền và hình thức phạt bổ sung so với Nghị định số 171/CP.

- Đối với các trường hợp người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy khi tham gia giao thông chạy quá tốc độ quy định từ 05km/h đến dưới 10km/h và quá tốc độ từ 10km/h đến 20km/h thì mức xử phạt quy định tại Nghị định 46/2016/NĐ-CP cơ bản vẫn được giữ nguyên như các quy định tại Nghị định 171/2013/NĐ-CP.

+ Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng theo Điểm c Khoản 3 Điều 6 khi người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy chạy quá tốc độ quy định từ 05 km/h đến dưới 10 km/h.

+ Nếu người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy chạy quá tốc độ quy định từ 10 km/h đến 20 km/h thì bị phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng theo Điểm a Khoản 5 Điều 6.

+ Trường hợp điều khiển xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự xe mô tô, tương tự xe gắn máy chạy quá tốc độ quy định trên 20km/h thì sẽ bị phạt tiền từ 3.000.000 – 4.000.000 đồng theo Điểm a Khoản 8; tước quyền sử dụng giấy phép lái xe từ 01 đến 03 tháng theo Điểm b Khoản 12 Điều 6 Nghị định số 46 trong khi Nghị định 171/2013/NĐ-CP quy định xử phạt đối với hành vi này từ 2.000.000đ – 3.000.000 đồng tước quyền sử dụng giấy phép lái xe 01 tháng.

- Đối với xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô cũng được Nghị định số 46 sửa đổi, bổ sung về mức phạt ở các hành vi chạy quá tốc độ quy định trên 20km/h đến 35km/h và quá tốc độ trên 35km/h.

+ Nếu điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự ô tô khi tham gia giao thông chạy quá tốc độ quy định từ 05km/h đến dưới 10km/h thì sẽ bị phạt tiền từ 600.000 đồng đến 800.000 đồng theo Điểm a Khoản 3 Điều 5.

+ Và phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với trường hợp người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự ô tô chạy quá tốc độ quy định từ 10 km/h đến 20 km/h theo Điểm đ Khoản 6 Điều 5.

+ Hành vi điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định trên 20 km/h đến 35 km/h điều chỉnh tăng mức phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng, tước quyền sử dụng GPLX 01 tháng (theo Nghị định 171) lên mức phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng theo Điểm a Khoản 7; tước quyền sử dụng giấy phép lái xe từ 01 đến 03 tháng theo Điểm b Khoản 12 Điều 5 Nghị định số 46.

+ Nghị định số 46 đã điều chỉnh tăng hình thức xử phạt bổ sung đối với hành vi điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định trên 35 km/h. Cụ thể, phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối hành vi điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định trên 35 km/h theo Điểm đ Khoản 8, tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 02 tháng đến 04 tháng theo Điểm c Khoản 12 Điều 5.

7. Hành vi không chấp hành hiệu lệnh, hướng dẫn của người điều khiển giao thông hoặc người kiểm soát giao thông là hành vi rất nguy hiểm nên cũng được Nghị định này điều chỉnh tăng về mức phạt so với Nghị định 171/CP. Cụ thể,

- Đối với người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự xe mô tô, tương tự xe gắn máy có hành vi không chấp hành hiệu lệnh, hướng dẫn của người điều khiển giao thông hoặc người kiểm soát giao thông thì bị phạt tiền từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng theo Điểm m Khoản 4, tước quyền sử dụng giấy phép lái xe từ 01 đến 03 tháng theo Điểm b Khoản 12 Điều 6. Đối với hành vi này Nghị định 171/CP chỉ áp dụng xử phạt tiền từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng và tước quyền sử dụng giấy phép lái xe thời hạn là 01 tháng.

- Tương tự, đối với người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô khi tham gia giao thông không chấp hành hiệu lệnh, hướng dẫn của người điều khiển giao thông hoặc người kiểm soát giao thông sẽ bị phạt tiền từ 1.200.000đ đến 2.000.000đ theo Điểm b Khoản 5; tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 01 tháng đến 03 tháng Điểm b Khoản 12 Điều 5. Nghị định 171/2013/NĐ-CP áp dụng xử phạt tiền đối với hành vi này là 800.000đ đến 1.200.000đ, tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe thời hạn là 01 tháng.

8. Nghị định số 46 đã điều chỉnh lại hành vi: Khi tín hiệu đèn giao thông đã chuyển sang màu đỏ nhưng không dừng lại trước vạch dừng mà vẫn tiếp tục đi (trừ trường hợp đã đi quá vạch dừng trước khi tín hiệu đèn giao thông chuyển sang màu vàng) thành hành vi: không chấp hành hiệu lệnh của đèn tín hiệu giao thông. Và tăng mức phạt tiền lẫn hình thức xử phạt bổ sung đối với hành vi này, cụ thể:

- Đối với người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự xe mô tô, tương tự xe gắn máy có hành vi không chấp hành hiệu lệnh của đèn tín hiệu giao thông sẽ nâng mức phạt tiền từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng, tước quyền sử dụng GPLX 01 tháng (theo Nghị định 171/CP) lên mức phạt tiền từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng theo Điểm c Khoản 4, tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 01 đến 03 tháng theo Điểm b Khoản 12 Điều 6.

- Đối với trường hợp người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô có hành vi không chấp hành hiệu lệnh của đèn tín hiệu giao thông sẽ bị phạt tiền từ 1.200.000đ đến 2.000.000đ theo Điểm a Khoản 5; tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 01 tháng đến 03 tháng theo Điểm b Khoản 12 Điều 5. So với Nghị định 171/CP áp dụng xử phạt tiền đối với hành vi này là 800.000đ đến 1.200.000đ, tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe là 01 tháng.

9. Ngoài ra, Nghị định số 46 cũng điều chỉnh tăng mức phạt tiền và hình thức phạt bổ sung đối với với một số hành vi vi phạm về quy tắc giao thông khác đối với người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy(kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự xe mô tô, tương tự xe gắn máy như sau:

- Hành vi người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy(kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự xe mô tô, tương tự xe gắn máy chở theo từ 03 (ba) người trở lên trên xe cũng được điều chỉnh tăng mức phạt tiền từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng, tước quyền sử dụng GPLX 01 tháng,  lên mức phạt tiền từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng theo Điểm b Khoản 4, tước quyền sử dụng giấy phép lái xe từ 01 đến 03 tháng Điểm b Khoản 12 Điều 6.

- Hành vi người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy(kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự xe mô tô, tương tự xe gắn máy dừng xe, đỗ xe trên cầu cũng điều chỉnh mức phạt tiền tăng cao so với Nghị định số 171/CP. Cụ thể: phạt tiền từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng đối với hành vi người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy(kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự xe mô tô, tương tự xe gắn máy dừng xe, đỗ xe trên cầu theo Điểm d Khoản 4 Điều 6.  Nghị định 171 xử phạt đối với hành vi này là phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng.

- Hành vi điều khiển xe mô tô, xe gắn máy(kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự xe mô tô, tương tự xe gắn máy thành đoàn gây cản trở giao thông (trừ trường hợp được cơ quan có thẩm quyền cấp phép) thì bị phạt tiền từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng theo Điểm đ Khoản 4 Điều 6 so với Nghị định số 171/CP chỉ phạt tiền đối với hành vi này là từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng.

- Hành vi điều khiển xe mô tô, xe gắn máy(kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự xe mô tô, tương tự xe gắn máy có liên quan trực tiếp đến vụ tai nạn giao thông mà không dừng lại, không giữ nguyên hiện trường, không tham gia cấp cứu người bị nạn (trừ trường hợp Gây tai nạn giao thông không dừng lại, không giữ nguyên hiện trường, bỏ trốn không đến trình báo với cơ quan có thẩm quyền, không tham gia cấp cứu người bị nạn) cũng được điều chỉnh nâng mức phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng lên từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng theo Điểm e Khoản 4 Điều 6 để mang tính răng đe.

- Hành vi điều khiển xe mô tô, xe gắn máy(kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự xe mô tô, tương tự xe gắn máy không đi bên phải theo chiều đi của mình; đi không đúng phần đường, làn đường quy định hoặc điều khiển xe đi trên hè phố cũng được quy định cụ thể hơn và không áp dụng xử phạt đối với trường hợp điều khiển xe đi qua hè phố để vào nhà.

Cụ thể, phạt tiền từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng đối với hành vi điều khiển xe mô tô, xe gắn máy(kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự xe mô tô, tương tự xe gắn máy không đi bên phải theo chiều đi của mình; đi không đúng phần đường, làn đường quy định hoặc điều khiển xe đi trên hè phố (trừ trường hợp điều khiển xe đi qua hè phố để vào nhà) theo Điểm g Khoản 4 Điều 6 so với Nghị định 171/CP chỉ áp dụng xử phạt tiền đối với hành vi này là từ 200.000 đồng lên từ 300.000 đồng.

- Hành vi điều khiển xe mô tô, xe gắn máy(kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự xe mô tô, tương tự xe gắn máy vượt bên phải trong các trường hợp không được phép cũng được điều chỉnh nâng mức phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng lên mức phạt tiền từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng theo Điểm h Khoản 4 Điều 6.

- Hành vi điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự xe mô tô, tương tự xe gắn máy đi vào đường cấm, khu vực cấm; đi ngược chiều của đường một chiều, đi ngược chiều trên đường có biển “Cấm đi ngược chiều”, trừ trường hợp xe ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ khẩn cấp theo quy định cũng được điều chỉnh nâng mức phạt tiền và cả hình thức phạt bổ sung. Cụ thể từ mức phạt tiền từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng theo Nghị định số 171được Nghị định số 46 nâng  lên mức phạt tiền từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng theo Điểm i Khoản 4; tước quyền sử dụng GPLX từ 01 đến 03 tháng theo Điểm b Khoản 12 Điều 6.

- Đối với hành vi người điều khiển xe hoặc người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự xe mô tô, tương tự xe gắn máy có hành vi: bám, kéo, đẩy xe khác, vật khác, dẫn dắt súc vật, mang vác vật cồng kềnh; người được chở trên xe đứng trên yên, giá đèo hàng hoặc ngồi trên tay lái; xếp hàng hóa trên xe vượt quá giới hạn quy định; điều khiển xe kéo theo xe khác, vật khác; Chở hàng vượt trọng tải thiết kế được ghi trong Giấy đăng ký xe đối với loại xe có quy định về trọng tải thiết kế cũng được điều chỉnh nâng mức phạt tiền từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng theo Nghị định số 171 lên mức phạt tiền từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng theo Điểm k, Điểm l Khoản 4 Điều 6 Nghị định số 46.

10. Hành vi gây tai nạn giao thông không dừng lại, không giữ nguyên hiện trường, bỏ trốn không đến trình báo với cơ quan có thẩm quyền, không tham gia cấp cứu người bị nạn cũng là hành vi rất nguy hiểm, ảnh hưởng trực tiếp đến tín mạng, sức khỏe người tham gia giao thông  nên cũng được Nghị định số 46 điều chỉnh tăng cả về mức phạt tiền lẫn hình thức phạt bổ sung.

Cụ thể, phạt tiền từ 5.000.000đ đến 6.000.000đ đối với trường hợp người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô gây tai nạn giao thông không dừng lại, không giữ nguyên hiện trường, bỏ trốn không đến trình báo với cơ quan có thẩm quyền, không tham gia cấp cứu người bị nạn theo Điểm b Khoản 7, tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 02 tháng đến 04 tháng theo Điểm c Khoản 12 Điều 5.

Và phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng theo Điểm c Khoản 7, tước quyền sử dụng giấy phép lái xe từ 02 tháng đến 04 tháng theo Điểm c Khoản 12, Điều 6 đối với người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe có kết cấu tương tự như xe mô tô, xe gắn máy thực hiện hành vi vi phạm gây tai nạn giao thông không dừng lại, không giữ nguyên hiện trường, bỏ trốn không đến trình báo với cơ quan có thẩm quyền, không tham gia cấp cứu người bị nạn.

11.  Nghị định số 46 cũng quy định một số hành vi mới như: là dùng chân điều khiển vô lăng khi xe đang chạy trên đường. Cụ thể, phạt tiền từ 7.000.000 đến 8.000.000 đồng theo Điểm d Khoản 8, tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 02 tháng đến 04 tháng theo Điểm c Khoản 12 Điều 5; tạm giữ xe đến 07 ngày theo Khoản 1 Điều 78 đối với hành vi điều khiển xe ô tô lạng lách, đánh võng; chạy quá tốc độ đuổi nhau trên đường bộ, dùng chân điều khiển vô lăng khi xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô đang chạy trên đường.

12. Nếu điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô lạng lách, đánh võng; chạy quá tốc độ đuổi nhau trên đường bộ; dùng chân điều khiển vô lăng xe khi xe đang chạy trên đường mà gây tai nạn giao thông hoặc không chấp hành hiệu lệnh dừng xe của người thi hành công vụ thì bị phạt tiền từ 18.000.000 đến 20.000.000 đồng theo Khoản 10; tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 03 tháng đến 05 tháng Điểm d Khoản 12 Điều 5. (Nghị định 171/2013/NĐ-CP xử phạt tiền đối với hành vi này từ 15.000.000đ đến 20.000.000đ, tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 04 tháng).

13. Hành vi điều khiển xe ô tô tải, máy kéo và các loại xe tương tự xe ô tô vận chuyển hàng hóa vi phạm quy định về vận tải đường bộ được quy định hoàn toàn khác so với Nghị định 171/CP. Cụ thể Nghị định số 46 đã điều chỉnh về tải trọng cho phép chở trên xe ô tô tải, máy kéo và các loại xe tương tự xe ô tô và tăng mức phạt so với Nghị định số 171/CP, Nghị định số 107/2014/NĐ-CP.

- Quy định lại khối lượng hành hóa cho phép chở trên tất cả xe ô tô tải, máy kéo và các loại xe tương tự xe ô tô (kể cả rơ moóc và sơ mi rơ moóc). Ở Nghị định số 171 và 107, chia ra làm 02 loại phương tiện đó là xe ô tô có tải trọng dưới 05 tấn và xe ô tô có tải trọng từ 05 tấn trở lên để áp dụng quy định khối lượng hành hóa cho phép chở trên xe để xử phạt.

+ Về trọng tải hàng hóa cho phép chở trên xe  ô tô tải, máy kéo và các loại xe tương tự xe ô tô (kể cả rơ moóc và sơ mi rơ moóc) được quy định làm 05 mức khác nhau và không xử phạt đối với hành vi người điều khiển xe ô tô tải, máy kéo và các loại xe tương tự xe ô tô chở hàng vượt quá trọng tải thiết kế được ghi trong Giấy đăng ký xe hoặc Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đến 10% (trừ xe xi téc chở chất lỏng) và đến 20% đối với xe xi téc chở chất lỏng cụ thể như sau:

Mức 1. Điều khiển xe ô tô tải, máy kéo và các loại xe tương tự xe ô tô (kể cả rơ moóc và sơ mi rơ moóc) chở hàng vượt trọng tải (khối lượng hàng chuyên chở) cho phép tham gia giao thông được ghi trong Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường trên 10% đến 30 % (trừ xe xi téc chở chất lỏng) và trên 20% đến 30% đối với xe xi téc chở chất lỏng.

Mức 2. Điều khiển xe ô tô tải, máy kéo và các loại xe tương tự xe ô tô chở hàng vượt trọng tải (khối lượng hàng chuyên chở) cho phép tham gia giao thông được ghi trong Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường trên 30% đến 50%;

Mức 3. Điều khiển xe ô tô tải, máy kéo và các loại xe tương tự xe ô tô  chở hàng vượt trọng tải (khối lượng hàng chuyên chở) cho phép tham gia giao thông được ghi trong Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường trên 50% đến 100%;

Mức 4. Điều khiển xe ô tô tải, máy kéo và các loại xe tương tự xe ô tô chở hàng vượt trọng tải (khối lượng hàng chuyên chở) cho phép tham gia giao thông được ghi trong Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường trên 100% đến 150%

Mức 5. Điều khiển xe ô tô tải, máy kéo và các loại xe tương tự xe ô tô chở hàng vượt trọng tải (khối lượng hàng chuyên chở) cho phép tham gia giao thông được ghi trong Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường trên 150%. Mức xử phạt cụ thể như sau:

* Đối với trường hợp người điều khiển xe xe ô tô tải và các loại xe tương tự xe ô tô vận chuyển hàng hóa (kể cả rơ moóc và sơ mi rơ moóc) chở hàng vượt trọng tải (khối lượng hàng chuyên chở) cho phép tham gia giao thông được ghi trong Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của xe trên 10% đến 30% (trừ xe xi téc chở chất lỏng) và trên 20% đến 30% đối với xe xi téc chở chất lỏng bị phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.000.000 đồng theo Điểm a Khoản 2 Điều 24.

Và theo Điểm h Khoản 7 Điều 30 thì phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 4.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô thực hiện hành vi vi phạm giao phương tiện hoặc để cho người làm công, người đại diện điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 24 Nghị định này hoặc trực tiếp Điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 24 Nghị định này.

* Nếu người điều khiển xe xe ô tô tải và các loại xe tương tự xe ô tô chở hàng vượt trọng tải (khối lượng hàng chuyên chở) cho phép tham gia giao thông được ghi trong Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của xe trên 30% đến 50% thì bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng theo Điểm a Khoản 5 Điều 24 như Nghị định 171/CP nhưng tăng về hình thức phạt bổ sung là tước quyền sử dụng GPLX từ 01 tháng lên từ 01 đến 03 tháng theo Điểm a Khoản 9 Điều 24.

Tương tự đối với chủ phương tiện thì theo Điểm d Khoản 9 Điều 30 thì phạt tiền từ 6.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 12.000.000 đồng đến 16.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô thực hiện hành vi vi phạm Giao phương tiện hoặc để cho người làm công, người đại diện điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm quy định tại Điểm a Khoản 5 Điều 24 Nghị định này hoặc trực tiếp điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm quy định tại Điểm a Khoản 5 Điều 24 Nghị định này.

* Nếu người điều khiển xe xe ô tô tải và các loại xe tương tự xe ô tô chở hàng vượt trọng tải (khối lượng hàng chuyên chở) cho phép tham gia giao thông được ghi trong Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của xe trên 50% đến 100% thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng theo Khoản 6 Điều 24, tước quyền sử dụng GPLX từ 01 đến 03 tháng theo Điểm a Khoản 9 Điều 24.

Đối với hành vi này Nghị định số 46 xử phạt tiền từ 14.000.000 đồng đến 16.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 28.000.000 đồng đến 32.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô thực hiện hành vi vi phạm Giao phương tiện hoặc để cho người làm công, người đại diện Điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm tại Khoản 6 Điều 24.

* Nếu người điều khiển xe xe ô tô tải và các loại xe tương tự xe ô tô chở hàng vượt trọng tải (khối lượng hàng chuyên chở) cho phép tham gia giao thông được ghi trong Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của xe trên 100% đến 150% thì bị phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng theo Khoản 7 Điều 24; tước quyền sử dụng GPLX từ 02 đến 04 tháng Điểm b Khoản 9 Điều 24.

Và chủ phương tiện sẽ bị phạt tiền từ 16.000.000 đồng đến 18.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 32.000.000 đồng đến 36.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô thực hiện hành vi Giao phương tiện hoặc để cho người làm công, người đại diện Điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm trên theo Khoản 11 Điều 30

* Nếu người điều khiển xe xe ô tô tải và các loại xe tương tự xe ô tô chở hàng vượt trọng tải (khối lượng hàng chuyên chở) cho phép tham gia giao thông được ghi trong Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của xe trên 150% thì bị phạt tiền 8.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng theo Khoản 8, tước quyền sử dụng GPLX từ 03 đến 05 tháng theo Điểm c Khoản 9 Điều 24, ở Nghị định 171/CP không quy định hành vi này.

Và theo Khoản 12 Điều 30 thì phạt tiền từ 18.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 36.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô khi giao phương tiện hoặc để cho người làm công, người đại diện điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm tại Khoản 8 Điều 24.

13. Ngoài ra, Nghị định số 46 cũng quy định cụ thể về thời gian, điều kiện bắt buộc phải sử dụng đèn chiếu sáng tại Điểm g Khoản 3 Điều 5 (Đối với xe ô tô) Không sử dụng hoặc sử dụng không đủ đèn chiếu sáng trong thời gian từ 19 giờ ngày hôm trước đến 05 giờ ngày hôm sau, khi sương mù, thời Tiết xấu hạn chế tầm nhìn; sử dụng đèn chiếu xa khi tránh xe đi ngược chiều. Và phạt tiền từ 80.000 đồng đến 100.000 đồng đối với người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy vi phạm hành vi này theo Điểm c Khoản 2 Điều 6.

14. Đối với các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ xảy ra trước ngày 01.8. 2016 mà sau đó mới bị phát hiện hoặc đang xem xét giải quyết thì áp dụng các quy định có lợi cho tổ chức, cá nhân vi phạm./.

II. NỘI DUNG ĐĨA HÌNH

Ngày 26/5/2016 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 46/2016/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt thay thế Nghị định số171/2013/NĐ-CP và Nghị định số 107/2014/NĐ-CP. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ  ngày 01.8.2016.

Nêu một số hành vi vi phạm Nghị định số 46/2016/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung như sau:

1. Hành vi người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự  xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy: sử dụng ô (dù), điện thoại di động, thiết bị âm thanh được điều chỉnh tăng mức xử phạt tiền. Cụ thể: Người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy mà sử dụng ô (dù), điện thoại di động, thiết bị âm thanh, (trừ thiết bị trợ thính) thì được điều chỉnh tăng mức phạt tiền từ 60.000 - 80.000 đồng (theo Nghị định số 171) lên mức phạt tiền từ 100.000 - 200.000 đồng theo Điểm o Khoản 3 Điều 6 NĐ số 46.

2. Trong thời gian qua, những hành vi vi phạm quy định về nồng độ cồn là nguyên nhân chính của các vụ tai nạn giao thông nên cũng được Nghị định số 46 điều chỉnh tăng cao về mức phạt tiền và hình thức phạt bổ sung. Cụ thể quy định như sau:

- Đối với trường hợp người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự xe mô tô, các loại xe tương tự xe gắn máy:

+ Khi điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 mg đến 80 mg/100 ml máu hoặc vượt quá 0,25 mg đến 0,4 mg/1 lít khí thở sẽ bị phạt tiền từ 1.000.000 đến 2.000.000đ theo theo Khoản 6, Điều 6, tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 01 đến 03 tháng theo Điểm b Khoản 12 Điều 6, tạm giữ xe đến 07 ngày  Khoản 1 Điều 78 NĐ số 46 của Chính phủ. Trong khi Nghị định số 171/2013/NĐ-CP xử phạt đối với hành vi này từ 500.000 – 1.000.000 đồng, tước quyền sủ dụng Giấy pháp lái xe 01 tháng, tạm giữ xe đến 07 ngày.

+ Nếu trong máu hoặc hơi thở của người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự xe mô tô, các loại xe tương tự xe gắn máy trên đường có nồng độ cồn vượt quá 80 mg/100 ml máu hoặc vượt quá 0,4 mg/1 lít khí thở thì sẽ bị phạt tiền từ 3.000.000 – đến 4.000.000 đồng theo Điểm c Khoản 8 Điều 6, tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 03 đến 05 tháng theo Điểm d Khoản 12 Điều 6, tạm giữ xe đến 07 ngày theo Khoản 1 Điều 78 NĐ số 46 của Chính phủ. Hành vi này đã được tăng về mức phạt tiền và hình thức phạt bổ sung so với mức phạt tiền từ 2.000.000 đến 3.000.000đ, tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 02 tháng, tạm giữ xe đến 07 ngày như Nghị định số 171/2013/NĐ-CP.

- Đối với người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô Nghị định số 46 quy định lại cụ thể, rõ ràng hơn hành vi khi tham gia giao thông trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn nhưng chưa vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc chưa vượt quá 0,25 miligam/1 lít khí thở so với quy định của Nghị định số 171/CP tăng hình thức phạt bổ sung đối với hành vi này và hành vi người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô trên đường mà trong máu và trường hợp trong hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở cụ thể như sau:

+ Khi người điều khiển xe ô tô và các loại xe có kết cấu tương tự như ô tô tham gia giao thông trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn nhưng chưa vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc chưa vượt quá 0,25 miligam/1 lít khí thở thì sẽ bị xử phạt từ 2.000.000 – 3.000.000 đồng theo Điểm a Khoản 6, tước quyền sử dụng giấy phép lái xe từ 01 đến 03 tháng theo Điểm b Khoản 12 Điều 5 và tạm giữ phương tiện đến 07 ngày theo Khoản 1 Điều 78.

+ Nếu trong máu hoặc trong hơi thở của người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự ô tô tham gia giao thông trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở thì sẽ bị xử phạt từ 7.000.000 – 8.000.000 đồng theo Điểm b Khoản 8; tước quyền sử dụng giấy phép lái xe từ 03 đến 05 tháng theo Điểm d Khoản 12 Điều 5; tạm giữ phương tiện đến 07 ngày theo Khoản 1 Điều 78.

+ Nếu người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự ô tô trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở cũng được điều chỉnh tăng mức phạt từ 10.000.000 đến 15.000.000 đồng, tước quyền sử dụng GPLX 02 tháng, tạm giữ xe đến 07 ngày theo Nghị định số 171/ CP lên mức phạt tiền từ 16.000.000 đến 18.000.000 đồng theo Điểm a Khoản 9; tước quyền sử dụng GPLX từ 04 tháng đến 06 tháng theo Điểm đ Khoản 12 Điều 5, tạm giữ phương tiện đến 07 ngày theo Khoản 1 Điều 78.

- Đối với trường hợp người điều khiển xe máy kéo, xe máy chuyên dùng có hành vi vi phạm điều khiển xe cơ giới trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá quy định cũng được điều chỉnh tăng mức phạt. Cụ thể như sau:

+ Người điều khiển xe máy kéo, xe máy chuyên dùng trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn nhưng chưa vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc chưa vượt quá 0,25 miligam/1 lít khí thở bị phạt tiền từ 400.000 đồng đến 600.000 đồng theo Điểm c Khoản 4, tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe (khi điều khiển máy kéo), chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ (khi điều khiển xe máy chuyên dùng)  từ 01 đến 03 tháng theo Điểm a Khoản 9 Điều 7. Tạm giữ phương tiện đến 07 ngày theo Khoản 1 Điều 78.

+ Trường hợp người điều khiển xe máy kéo, xe máy chuyên dùng trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở thì sẽ bị phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng  theo Điểm a Khoản 6; tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe (khi điều khiển máy kéo), chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ (khi điều khiển xe máy chuyên dùng)  từ 01 đến 03 tháng theo Điểm a Khoản 9 Điều 7. Tạm giữ phương tiện đến 07 ngày theo Khoản 1 Điều 78. Ở hành vi này Nghị định số 171 chỉ phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng và tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe (khi điều khiển máy kéo), chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ (khi điều khiển xe máy chuyên dùng) 01 tháng.

+ Nếu người điều khiển xe máy kéo, xe máy chuyên dùng trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở thì sẽ bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng theo Điểm a Khoản 7; tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe (khi điều khiển máy kéo), chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ (khi điều khiển xe máy chuyên dùng) từ 02 đến 04 tháng theo Điểm b Khoản 9 Điều 7. Tạm giữ phương tiện đến 07 ngày theo Khoản 1 Điều 78. Nghị định số 171 chỉ xử phạt đối với hành vi này là phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng, tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe (khi điều khiển máy kéo), chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ (khi điều khiển xe máy chuyên dùng) 02 tháng.

3. Hành vi khi điều khiển xe trên đường mà trong cơ thể có chất ma túy cũng là hành vi rất nguy hiểm, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình điều khiển phương tiện tham gia giao thông nên Nghị định số 46/CP cũng điều chỉnh về hình thức phạt bổ sung và tăng cao về mức phạt tiền để mang tính chất xử lý nghiêm.

* Đối với người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự như xe mô tô, xe gắn máy thì: Tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 22 tháng đến 24 tháng (trong trường hợp người điều khiển có Giấy phép lái xe) hoặc phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng (trong trường hợp người điều khiển không có Giấy phép lái xe hoặc có nhưng đang bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe) đối với người điều khiển xe trên đường mà trong cơ thể có chất ma túy theo Khoản 11 Điều 6 Nghị định số 46 của Chính phủ.

So với Nghị định số 171/2013/NĐ-CP NĐ 46 đã điều chỉnh tăng mức phạt tiền từ 2.000.000 đ đến 3.000.000đ lên mức phạt tiền từ 3.000.000đ đến 4.000.000đ (trong trường hợp người điều khiển không có Giấy phép lái xe) và điều chỉnh quy định lại hình thức phạt bổ sung là tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 24 tháng xuống còn từ 22 đến 24 tháng (trong trường hợp người điều khiển có Giấy phép lái xe).

* Tương tự đối với người điều khiển xe ô tô, các loại xe tương tự xe ôtô thì:

Tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 22 tháng đến 24 tháng (trong trường hợp có Giấy phép lái xe) hoặc phạt tiền từ 16.000.000 đồng đến 18.000.000 đồng (trong trường hợp không có Giấy phép lái xe hoặc có nhưng đang bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe) đối với người Điều khiển xe trên đường mà trong cơ thể có chất ma túy theo Khoản 11 Điều 5 NĐ số 46.

Ở Nghị định số 171 áp dụng xử phạt đối với trường hợp này là: Tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 24 tháng (trong trường hợp có Giấy phép lái xe) hoặc phạt tiền từ 8.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng (trong trường hợp không có Giấy phép lái xe hoặc có nhưng đang bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe) đối với người điều khiển xe trên đường mà trong cơ thể có chất ma túy.

4. Hành vi không chấp hành yêu cầu kiểm tra về chất ma túy, nồng độ cồn cũng được điều chỉnh và tăng về mức phạt tiền lẫn hình thức phạt bổ sung. Vì hành vi không chấp hành yêu cầu kiểm tra về chất ma túy, nồng độ cồn của người thi hành công vụ và hành vi có nồng độ cồn vượt quá quy định cũng là những hành vi nguy hiểm nên được xem xét xử phạt như nhau. Cụ thể:

* Đối với người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự xe mô tô, tương tự xe gắn máy tham gia giao thông mà không chấp hành yêu cầu kiểm tra về chất ma túy, nồng độ cồn của người kiểm soát giao thông hoặc người thi hành công vụ sẽ bị phạt tiền từ 3.000.000 – đến 4.000.000 đồng theo theo Điểm b Khoản 8; tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 03 đến 05 tháng theo Điểm d Khoản 12 Điều 6; Tạm giữ phương tiện đến 07 ngày theo Khoản 1 Điều 78 Nghị định số 46 của Chính phủ.

Mức phạt tiền này tăng cao so với mức phạt tiền từ 2.000.000 đến 3.000.000đ, tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 02 tháng như Nghị định số Nghị định số 171/2013/NĐ-CP.

* Đối với người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô khi tham gia giao thông mà không chấp hành yêu cầu kiểm tra về chất ma túy, nồng độ cồn của người kiểm soát giao thông hoặc người thi hành công vụ thì bị áp dụng mức phạt tiền từ 16.000.000 đồng đến 18.000.000 đồng theo Điểm c, Điểm b Khoản 9, tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 04 đến 06 tháng Điểm đ Khoản 12 Điều 5, tạm giữ xe đến 07 ngày theo Khoản 1 Điều 78. Đối với hành vi này Nghị định số 171 chỉ phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng, tước quyền sử dụng GPLX 02 tháng, tạm giữ xe đến 07 ngày.

5. Hành vi cản trở hoặc không chấp hành yêu cầu thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ cũng được chuyển từ Nghị định số 167/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình sang Nghị định này để việc phát hiện và xử lý được  phù hợp và dễ dàng hơn. Cụ thể, phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 8.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng đối với tổ chức thực hiện hành vi cản trở hoặc không chấp hành yêu cầu thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ theo Khoản 5 Điều 11. Tạm giữ phương tiện đến 07 ngày theo Khoản 1 Điều 78 Nghị định số 46 của Chính phủ. Ngoài ra, nếu là người điều khiển phương tiện còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 01 đến 03 tháng theo Khoản 7 Điều 11.

6. Những vi phạm quy định về tốc độ khi tham gia giao thông cũng được điều chỉnh tăng về mức phạt tiền và hình thức phạt bổ sung so với Nghị định số 171/CP.

- Đối với các trường hợp người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy khi tham gia giao thông chạy quá tốc độ quy định từ 05km/h đến dưới 10km/h và quá tốc độ từ 10km/h đến 20km/h thì mức xử phạt quy định tại Nghị định 46/2016/NĐ-CP cơ bản vẫn được giữ nguyên như các quy định tại Nghị định 171/2013/NĐ-CP.

+ Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng theo Điểm c Khoản 3 Điều 6 khi người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy chạy quá tốc độ quy định từ 05 km/h đến dưới 10 km/h.

+ Nếu người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy chạy quá tốc độ quy định từ 10 km/h đến 20 km/h thì bị phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng theo Điểm a Khoản 5 Điều 6.

+ Tường hợp điều khiển xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự xe mô tô, tương tự xe gắn máy chạy quá tốc độ quy định trên 20km/h thì sẽ bị phạt tiền từ 3.000.000 – 4.000.000 đồng theo Điểm a Khoản 8; tước quyền sử dụng giấy phép lái xe từ 01 đến 03 tháng theo Điểm b Khoản 12 Điều 6 Nghị định số 46 trong khi Nghị định 171/2013/NĐ-CP quy định xử phạt đối với hành vi này từ 2.000.000đ – 3.000.000 đồng tước quyền sử dụng giấy phép lái xe 01 tháng.

- Đối với xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô cũng được Nghị định số 46 sửa đổi, bổ sung về mức phạt ở các hành vi chạy quá tốc độ quy định trên 20km/h đến 35km/h và quá tốc độ trên 35km/h.

+ Nếu điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự ô tô khi tham gia giao thông chạy quá tốc độ quy định từ 05km/h đến dưới 10km/h thì sẽ bị phạt tiền từ 600.000 đồng đến 800.000 đồng theo Điểm a Khoản 3 Điều 5.

+ Và phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với trường hợp người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự ô tô chạy quá tốc độ quy định từ 10 km/h đến 20 km/h theo Điểm đ Khoản 6 Điều 5.

+ Hành vi điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định trên 20 km/h đến 35 km/h điều chỉnh tăng mức phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng, tước quyền sử dụng GPLX 01 tháng (theo Nghị định 171) lên mức phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng theo Điểm a Khoản 7; tước quyền sử dụng giấy phép lái xe từ 01 đến 03 tháng theo Điểm b Khoản 12 Điều 5 Nghị định số 46.

+ Nghị định số 46 đã điều chỉnh tăng hình thức xử phạt bổ sung đối với hành vi điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định trên 35 km/h. Cụ thể, phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối hành vi điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định trên 35 km/h theo Điểm đ Khoản 8, tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 02 tháng đến 04 tháng theo Điểm c Khoản 12 Điều 5.

7. Hành vi không chấp hành hiệu lệnh, hướng dẫn của người điều khiển giao thông hoặc người kiểm soát giao thông là hành vi rất nguy hiểm nên cũng được Nghị định này điều chỉnh tăng về mức phạt so với Nghị định 171/CP. Cụ thể,

- Đối với người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự xe mô tô, tương tự xe gắn máy có hành vi không chấp hành hiệu lệnh, hướng dẫn của người điều khiển giao thông hoặc người kiểm soát giao thông thì bị phạt tiền từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng theo Điểm m Khoản 4, tước quyền sử dụng giấy phép lái xe từ 01 đến 03 tháng theo Điểm b Khoản 12 Điều 6. Đối với hành vi này Nghị định 171/CP chỉ áp dụng xử phạt tiền từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng và tước quyền sử dụng giấy phép lái xe thời hạn là 01 tháng.

- Tương tự, đối với người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô khi tham gia giao thông không chấp hành hiệu lệnh, hướng dẫn của người điều khiển giao thông hoặc người kiểm soát giao thông sẽ bị phạt tiền từ 1.200.000đ đến 2.000.000đ theo Điểm b Khoản 5; tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 01 tháng đến 03 tháng Điểm b Khoản 12 Điều 5. Nghị định 171/2013/NĐ-CP áp dụng xử phạt tiền đối với hành vi này là 800.000đ đến 1.200.000đ, tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe thời hạn là 01 tháng.

8. Nghị định số 46 đã điều chỉnh lại hành vi: Khi tín hiệu đèn giao thông đã chuyển sang màu đỏ nhưng không dừng lại trước vạch dừng mà vẫn tiếp tục đi (trừ trường hợp đã đi quá vạch dừng trước khi tín hiệu đèn giao thông chuyển sang màu vàng) thành hành vi: không chấp hành hiệu lệnh của đèn tín hiệu giao thông. Và tăng mức phạt tiền lẫn hình thức xử phạt bổ sung đối với hành vi này, cụ thể:

- Đối với người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự xe mô tô, tương tự xe gắn máy có hành vi không chấp hành hiệu lệnh của đèn tín hiệu giao thông sẽ nâng mức phạt tiền từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng, tước quyền sử dụng GPLX 01 tháng (theo Nghị định 171/CP) lên mức phạt tiền từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng theo Điểm c Khoản 4, tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 01 đến 03 tháng theo Điểm b Khoản 12 Điều 6.

- Đối với trường hợp người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô có hành vi không chấp hành hiệu lệnh của đèn tín hiệu giao thông sẽ bị phạt tiền từ 1.200.000đ đến 2.000.000đ theo Điểm a Khoản 5; tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 01 tháng đến 03 tháng theo Điểm b Khoản 12 Điều 5. So với Nghị định 171/CP áp dụng xử phạt tiền đối với hành vi này là 800.000đ đến 1.200.000đ, tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe là 01 tháng.

9. Ngoài ra, Nghị định số 46 cũng điều chỉnh tăng mức phạt tiền và hình thức phạt bổ sung đối với với một số hành vi vi phạm về quy tắc giao thông khác đối với người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy(kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự xe mô tô, tương tự xe gắn máy như sau:

- Hành vi người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy(kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự xe mô tô, tương tự xe gắn máy chở theo từ 03 (ba) người trở lên trên xe cũng được điều chỉnh tăng mức phạt tiền từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng, tước quyền sử dụng GPLX 01 tháng,  lên mức phạt tiền từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng theo Điểm b Khoản 4, tước quyền sử dụng giấy phép lái xe từ 01 đến 03 tháng Điểm b Khoản 12 Điều 6.

- Hành vi người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy(kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự xe mô tô, tương tự xe gắn máy dừng xe, đỗ xe trên cầu cũng điều chỉnh mức phạt tiền tăng cao so với Nghị định số 171/CP. Cụ thể: phạt tiền từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng đối với hành vi người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy(kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự xe mô tô, tương tự xe gắn máy dừng xe, đỗ xe trên cầu theo Điểm d Khoản 4 Điều 6.  Nghị định 171 xử phạt đối với hành vi này là phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng.

- Hành vi điều khiển xe mô tô, xe gắn máy(kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự xe mô tô, tương tự xe gắn máy thành đoàn gây cản trở giao thông (trừ trường hợp được cơ quan có thẩm quyền cấp phép) thì bị phạt tiền từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng theo Điểm đ Khoản 4 Điều 6 so với Nghị định số 171/CP chỉ phạt tiền đối với hành vi này là từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng.

- Hành vi điều khiển xe mô tô, xe gắn máy(kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự xe mô tô, tương tự xe gắn máy có liên quan trực tiếp đến vụ tai nạn giao thông mà không dừng lại, không giữ nguyên hiện trường, không tham gia cấp cứu người bị nạn (trừ trường hợp Gây tai nạn giao thông không dừng lại, không giữ nguyên hiện trường, bỏ trốn không đến trình báo với cơ quan có thẩm quyền, không tham gia cấp cứu người bị nạn) cũng được điều chỉnh nâng mức phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng lên từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng theo Điểm e Khoản 4 Điều 6 để mang tính răng đe.

- Hành vi điều khiển xe mô tô, xe gắn máy(kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự xe mô tô, tương tự xe gắn máy không đi bên phải theo chiều đi của mình; đi không đúng phần đường, làn đường quy định hoặc điều khiển xe đi trên hè phố cũng được quy định cụ thể hơn và không áp dụng xử phạt đối với trường hợp điều khiển xe đi qua hè phố để vào nhà.

Cụ thể, phạt tiền từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng đối với hành vi điều khiển xe mô tô, xe gắn máy(kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự xe mô tô, tương tự xe gắn máy không đi bên phải theo chiều đi của mình; đi không đúng phần đường, làn đường quy định hoặc điều khiển xe đi trên hè phố (trừ trường hợp điều khiển xe đi qua hè phố để vào nhà) theo Điểm g Khoản 4 Điều 6 so với Nghị định 171/CP chỉ áp dụng xử phạt tiền đối với hành vi này là từ 200.000 đồng lên từ 300.000 đồng.

- Hành vi điều khiển xe mô tô, xe gắn máy(kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự xe mô tô, tương tự xe gắn máy vượt bên phải trong các trường hợp không được phép cũng được điều chỉnh nâng mức phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng lên mức phạt tiền từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng theo Điểm h Khoản 4 Điều 6.

- Hành vi điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự xe mô tô, tương tự xe gắn máy đi vào đường cấm, khu vực cấm; đi ngược chiều của đường một chiều, đi ngược chiều trên đường có biển “Cấm đi ngược chiều”, trừ trường hợp xe ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ khẩn cấp theo quy định cũng được điều chỉnh nâng mức phạt tiền và cả hình thức phạt bổ sung. Cụ thể từ mức phạt tiền từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng theo Nghị định số 171được Nghị định số 46 nâng  lên mức phạt tiền từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng theo Điểm i Khoản 4; tước quyền sử dụng GPLX từ 01 đến 03 tháng theo Điểm b Khoản 12 Điều 6.

- Đối với hành vi người điều khiển xe hoặc người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự xe mô tô, tương tự xe gắn máy có hành vi: bám, kéo, đẩy xe khác, vật khác, dẫn dắt súc vật, mang vác vật cồng kềnh; người được chở trên xe đứng trên yên, giá đèo hàng hoặc ngồi trên tay lái; xếp hàng hóa trên xe vượt quá giới hạn quy định; điều khiển xe kéo theo xe khác, vật khác; Chở hàng vượt trọng tải thiết kế được ghi trong Giấy đăng ký xe đối với loại xe có quy định về trọng tải thiết kế cũng được điều chỉnh nâng mức phạt tiền từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng theo Nghị định số 171 lên mức phạt tiền từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng theo Điểm k, Điểm l Khoản 4 Điều 6 Nghị định số 46.

10. Hành vi gây tai nạn giao thông không dừng lại, không giữ nguyên hiện trường, bỏ trốn không đến trình báo với cơ quan có thẩm quyền, không tham gia cấp cứu người bị nạn cũng là hành vi rất nguy hiểm, ảnh hưởng trực tiếp đến tín mạng, sức khỏe người tham gia giao thông  nên cũng được Nghị định số 46 điều chỉnh tăng cả về mức phạt tiền lẫn hình thức phạt bổ sung.

Cụ thể, phạt tiền từ 5.000.000đ đến 6.000.000đ đối với trường hợp người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô gây tai nạn giao thông không dừng lại, không giữ nguyên hiện trường, bỏ trốn không đến trình báo với cơ quan có thẩm quyền, không tham gia cấp cứu người bị nạn theo Điểm b Khoản 7, tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 02 tháng đến 04 tháng theo Điểm c Khoản 12 Điều 5.

Và phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng theo Điểm c Khoản 7, tước quyền sử dụng giấy phép lái xe từ 02 tháng đến 04 tháng theo Điểm c Khoản 12, Điều 6 đối với người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe có kết cấu tương tự như xe mô tô, xe gắn máy thực hiện hành vi vi phạm gây tai nạn giao thông không dừng lại, không giữ nguyên hiện trường, bỏ trốn không đến trình báo với cơ quan có thẩm quyền, không tham gia cấp cứu người bị nạn.

11.  Nghị định số 46 cũng quy định một số hành vi mới như: là dùng chân điều khiển vô lăng khi xe đang chạy trên đường. Cụ thể, phạt tiền từ 7.000.000 đến 8.000.000 đồng theo Điểm d Khoản 8, tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 02 tháng đến 04 tháng theo Điểm c Khoản 12 Điều 5; tạm giữ xe đến 07 ngày theo Khoản 1 Điều 78 đối với hành vi điều khiển xe ô tô lạng lách, đánh võng; chạy quá tốc độ đuổi nhau trên đường bộ, dùng chân điều khiển vô lăng khi xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô đang chạy trên đường.

12. Nếu điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô lạng lách, đánh võng; chạy quá tốc độ đuổi nhau trên đường bộ; dùng chân điều khiển vô lăng xe khi xe đang chạy trên đường mà gây tai nạn giao thông hoặc không chấp hành hiệu lệnh dừng xe của người thi hành công vụ thì bị phạt tiền từ 18.000.000 đến 20.000.000 đồng theo Khoản 10; tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe từ 03 tháng đến 05 tháng Điểm d Khoản 12 Điều 5. (Nghị định 171/2013/NĐ-CP xử phạt tiền đối với hành vi này từ 15.000.000đ đến 20.000.000đ, tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 04 tháng).

13. Hành vi điều khiển xe ô tô tải, máy kéo và các loại xe tương tự xe ô tô vận chuyển hàng hóa vi phạm quy định về vận tải đường bộ được quy định hoàn toàn khác so với Nghị định 171/CP. Cụ thể Nghị định số 46 đã điều chỉnh về tải trọng cho phép chở trên xe ô tô tải, máy kéo và các loại xe tương tự xe ô tô và tăng mức phạt so với Nghị định số 171/CP, Nghị định số 107/2014/NĐ-CP.

- Quy định lại khối lượng hành hóa cho phép chở trên tất cả xe ô tô tải, máy kéo và các loại xe tương tự xe ô tô (kể cả rơ moóc và sơ mi rơ moóc). Ở Nghị định số 171 và 107, chia ra làm 02 loại phương tiện đó là xe ô tô có tải trọng dưới 05 tấn và xe ô tô có tải trọng từ 05 tấn trở lên để áp dụng quy định khối lượng hành hóa cho phép chở trên xe để xử phạt.

+ Về trọng tải hàng hóa cho phép chở trên xe  ô tô tải, máy kéo và các loại xe tương tự xe ô tô (kể cả rơ moóc và sơ mi rơ moóc) được quy định làm 05 mức khác nhau và không xử phạt đối với hành vi người điều khiển xe ô tô tải, máy kéo và các loại xe tương tự xe ô tô chở hàng vượt quá trọng tải thiết kế được ghi trong Giấy đăng ký xe hoặc Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đến 10% (trừ xe xi téc chở chất lỏng) và đến 20% đối với xe xi téc chở chất lỏng cụ thể như sau:

Mức 1. Điều khiển xe ô tô tải, máy kéo và các loại xe tương tự xe ô tô (kể cả rơ moóc và sơ mi rơ moóc) chở hàng vượt trọng tải (khối lượng hàng chuyên chở) cho phép tham gia giao thông được ghi trong Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường trên 10% đến 30 % (trừ xe xi téc chở chất lỏng) và trên 20% đến 30% đối với xe xi téc chở chất lỏng.

Mức 2. Điều khiển xe ô tô tải, máy kéo và các loại xe tương tự xe ô tô chở hàng vượt trọng tải (khối lượng hàng chuyên chở) cho phép tham gia giao thông được ghi trong Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường trên 30% đến 50%;

Mức 3. Điều khiển xe ô tô tải, máy kéo và các loại xe tương tự xe ô tô  chở hàng vượt trọng tải (khối lượng hàng chuyên chở) cho phép tham gia giao thông được ghi trong Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường trên 50% đến 100%;

Mức 4. Điều khiển xe ô tô tải, máy kéo và các loại xe tương tự xe ô tô chở hàng vượt trọng tải (khối lượng hàng chuyên chở) cho phép tham gia giao thông được ghi trong Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường trên 100% đến 150%

Mức 5. Điều khiển xe ô tô tải, máy kéo và các loại xe tương tự xe ô tô chở hàng vượt trọng tải (khối lượng hàng chuyên chở) cho phép tham gia giao thông được ghi trong Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường trên 150%. Mức xử phạt cụ thể như sau:

* Đối với trường hợp người điều khiển xe xe ô tô tải và các loại xe tương tự xe ô tô vận chuyển hàng hóa (kể cả rơ moóc và sơ mi rơ moóc) chở hàng vượt trọng tải (khối lượng hàng chuyên chở) cho phép tham gia giao thông được ghi trong Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của xe trên 10% đến 30% (trừ xe xi téc chở chất lỏng) và trên 20% đến 30% đối với xe xi téc chở chất lỏng bị phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.000.000 đồng theo Điểm a Khoản 2 Điều 24.

Và theo Điểm h Khoản 7 Điều 30 thì phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 4.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô thực hiện hành vi vi phạm giao phương tiện hoặc để cho người làm công, người đại diện điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 24 Nghị định này hoặc trực tiếp Điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 24 Nghị định này.

* Nếu người điều khiển xe xe ô tô tải và các loại xe tương tự xe ô tô chở hàng vượt trọng tải (khối lượng hàng chuyên chở) cho phép tham gia giao thông được ghi trong Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của xe trên 30% đến 50% thì bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng theo Điểm a Khoản 5 Điều 24 như Nghị định 171/CP nhưng tăng về hình thức phạt bổ sung là tước quyền sử dụng GPLX từ 01 tháng lên từ 01 đến 03 tháng theo Điểm a Khoản 9 Điều 24.

Tương tự đối với chủ phương tiện thì theo Điểm d Khoản 9 Điều 30 thì phạt tiền từ 6.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 12.000.000 đồng đến 16.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô thực hiện hành vi vi phạm Giao phương tiện hoặc để cho người làm công, người đại diện điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm quy định tại Điểm a Khoản 5 Điều 24 Nghị định này hoặc trực tiếp điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm quy định tại Điểm a Khoản 5 Điều 24 Nghị định này.

* Nếu người điều khiển xe xe ô tô tải và các loại xe tương tự xe ô tô chở hàng vượt trọng tải (khối lượng hàng chuyên chở) cho phép tham gia giao thông được ghi trong Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của xe trên 50% đến 100% thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng theo Khoản 6 Điều 24, tước quyền sử dụng GPLX từ 01 đến 03 tháng theo Điểm a Khoản 9 Điều 24.

Đối với hành vi này Nghị định số 46 xử phạt tiền từ 14.000.000 đồng đến 16.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 28.000.000 đồng đến 32.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô thực hiện hành vi vi phạm Giao phương tiện hoặc để cho người làm công, người đại diện Điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm tại Khoản 6 Điều 24.

* Nếu người điều khiển xe xe ô tô tải và các loại xe tương tự xe ô tô chở hàng vượt trọng tải (khối lượng hàng chuyên chở) cho phép tham gia giao thông được ghi trong Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của xe trên 100% đến 150% thì bị phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng theo Khoản 7 Điều 24; tước quyền sử dụng GPLX từ 02 đến 04 tháng Điểm b Khoản 9 Điều 24.

Và chủ phương tiện sẽ bị phạt tiền từ 16.000.000 đồng đến 18.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 32.000.000 đồng đến 36.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô thực hiện hành vi Giao phương tiện hoặc để cho người làm công, người đại diện Điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm trên theo Khoản 11 Điều 30

* Nếu người điều khiển xe xe ô tô tải và các loại xe tương tự xe ô tô chở hàng vượt trọng tải (khối lượng hàng chuyên chở) cho phép tham gia giao thông được ghi trong Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của xe trên 150% thì bị phạt tiền 8.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng theo Khoản 8, tước quyền sử dụng GPLX từ 03 đến 05 tháng theo Điểm c Khoản 9 Điều 24, ở Nghị định 171/CP không quy định hành vi này.

Và theo Khoản 12 Điều 30 thì phạt tiền từ 18.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 36.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô khi giao phương tiện hoặc để cho người làm công, người đại diện điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm tại Khoản 8 Điều 24.

13. Ngoài ra, Nghị định số 46 cũng quy định cụ thể về thời gian, điều kiện bắt buộc phải sử dụng đèn chiếu sáng tại Điểm g Khoản 3 Điều 5 Phạt tiền từ 600.000đ đến 800.000đ đối với người điều khiển xe ôtô, các loại xe tương tự xe ôtô không sử dụng hoặc sử dụng không đủ đèn chiếu sáng trong thời gian từ 19 giờ ngày hôm trước đến 05 giờ ngày hôm sau, khi sương mù, thời Tiết xấu hạn chế tầm nhìn; sử dụng đèn chiếu xa khi tránh xe đi ngược chiều. Và phạt tiền từ 80.000 đồng đến 100.000 đồng đối với người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy vi phạm hành vi này theo Điểm c Khoản 2 Điều 6.

14. Đối với các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ xảy ra trước ngày 01.8. 2016 mà sau đó mới bị phát hiện hoặc đang xem xét giải quyết thì áp dụng các quy định có lợi cho tổ chức, cá nhân vi phạm.

Trên đây là Đề cương xây dựng đĩa tiếng và đĩa hình tuyên truyền Nghị định số 46/2016/NĐ-CP của Chính phủ, kính trình Ban Chỉ huy phòng phê duyệt để tổ chức thực hiện./.

Cập nhật ngày
 
ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN NGHỊ ĐỊNH 46/2016/NĐ-CP PDF. In bài viết Email
Tuổi trẻ với hiến pháp
Tác giả: PHÒNG CSGT ĐƯỜNG BỘ CÔNG AN TỈNH BẾN TRE   
Cập nhật ngày
 
Thị Trấn Giồng Trôm tổ chức sinh hoạt CLB Tuổi trẻ với pháp luật năm 2016 PDF. In bài viết Email
Tuổi trẻ với hiến pháp
Tác giả: Kim Đồng   
Ngày 17/6/2016, tại hội trường Ủy ban nhân dân thị trấn, Ban Thường vụ Thị trấn Đoàn phối hợp với Ủy ban nhân dân thị trấn Giồng Trôm tổ chức sinh hoạt CLB Tuổi trẻ với pháp luật năm 2016. Hoạt động thu hút của 280 đoàn viên, hội viên, học sinh chuyển sinh hoạt hè về địa phương tham dự. Các bạn đ…
Cập nhật ngày
 
MÔ HÌNH SINH HOẠT CÂU LẠC BỘ “TUỔI TRẺ VỚI PHÁP LUẬT” HIỆU QUẢ PDF. In bài viết Email
Tuổi trẻ với hiến pháp
Tác giả: Thành đoàn Bến Tre   
Thành phố Bến Tre là trung tâm kinh tế - chính trị của tỉnh; trong những năm gần đây, tốc độ đô thị hóa trên địa bàn thành phố Bến Tre ngày càng tăng cao đã mở ra cho đoàn viên, thanh niên nhiều thời cơ cũng như thách thức. Với sự phát triển hội nhập ngày càng cao mang lại cho thanh niên nhiều cơ hộ…
Cập nhật ngày
 
«Bắt đầuLùi123Tiếp theoCuối»