TÀI LIỆU SINH HOẠT CHI ĐOÀN THÁNG 4/2019

I. CÁC NGÀY LỄ KỶ NIỆM TRONG THÁNG 4

  • 15-4 (Mùng 10 tháng 3 âm lịch ): Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương
  • 21-4-2014: Hội sách Việt Nam
  • 22-4-1970: Ngày Trái Đất
  • 30-4-1975: Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

II. LỊCH SỬ KỶ NIỆM NGÀY GIẢI PHÓNG MIỀN NAM , THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC (30/04/1975-30/04/2019)

Ngày 30/4/1975, đại thắng mùa xuân đã làm thất bại hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược và ách thống trị thực dân mới của đế quốc Mỹ ở miền Nam, giải phóng hoàn toàn miền Nam, kết thúc vẻ vang cuộc chiến tranh cứu nước lâu dài nhất, khó khăn nhất và vĩ đại nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của nhân dân ta. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV tháng 12/1976 đánh giá: “Năm tháng sẽ trôi qua nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”. Hay đánh giá của đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Trong quá trình cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng, ba cái móc chói lọi bằng vàng: Tổng khởi nghĩa tháng Tám, chiến thắng Điện Biên Phủ và chiến thắng mùa xuân 1975, đại thắng mãi mãi sáng ngời trong sử sách. Nhân dân Việt Nam đã làm nên câu chuyện thần kì tưởng chừng không thể làm được giữa thế kỷ XX. Lần đầu tiên trong lịch sử, một dân tộc vốn là thuộc địa, nửa phong kiến, kinh tế kém phát triển, đánh thắng những cường quốc, đế quốc chủ nghĩa chủ yếu bằng sức của chính mình, nêu một tấm gương anh dũng, bất khuất, trí tuệ, tài năng trước toàn thế giới”.         

          Chiến thắng ngày 30/4/1975 là thành quả vĩ đại trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội do Đảng ta và chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo; là trang sử hào hùng, chói lọi trên con đường dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm lịch sử của dân tộc. Quân và dân ta đánh thắng kẻ thù lớn mạnh và hung hãn nhất của loài người tiến bộ; kết thúc oanh liệt cuộc chiến đấu 30 năm giành độc lập tự do, thống nhất cho Tổ quốc; chấm dứt ách thống trị hơn một thế kỷ của chủ nghĩa thực dân cũ và mới trên đất nước ta; là thắng lợi tiêu biểu của lực lượng cách mạng thế giới, góp phần thúc đẩy cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì mục tiêu độc lập dân tộc, hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội; cổ vũ động viên các dân tộc đang tiến hành công cuộc giải phóng dân tộc, chống chủ nghĩa thực dân kiểu mới trên toàn thế giới.

Vào cuối năm 1974 – đầu năm 1975, nhận thấy tình hình so sánh lực lượng ở Miền Nam có sự thay đổi mau lẹ có lợi cho cách mạng ta, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã đề ra kế hoạch giải phóng hoàn toàn Miền Nam trong hai năm 1975 và 1976. Nhưng Bộ Chính trị nhấn mạnh “cả năm 1975 là thời cơ” và chỉ rõ “nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng hoàn toàn Miền Nam trong năm 1975”. Bộ Chính trị cũng nhấn mạnh cần tranh thủ thời cơ đánh thắng nhanh để đỡ thiệt hại về người và của cho nhân dân, giữ gìn tốt cơ sở kinh tế, công trình văn hóa, giảm bớt sự tàn phá của chiến tranh. Sau chiến thắng của quân ta ở chiến dịch Tây Nguyên và chiến dịch Huế-Đà Nẵng, Bộ Chính trị đã nhận định: “thời cơ chiến lược đã đến, ta có điều kiện hoàn thành sớm quyết tâm giải phóng Miền Nam” và đã đưa ra quyết định: “phải tập trung nhanh nhất lực lượng, binh khí kỹ thuật và vật chất giải phóng Miền Nam trước mùa mưa”, đồng thời chiến dịch giải phóng Sài Gòn-Gia Định được Bộ Chính trị quyết định mang tên “chiến dịch Hồ Chí Minh”. Trước khi tấn công giải phóng Sài Gòn, quân ta đã tiến công Xuân Lộc và Phan Răng-đây là những căn cứ phòng thủ trọng yếu của địch để bảo vệ Sài Gòn từ phía đông.

 Vào lúc 17 giờ ngày 26/4, quân ta đã nổ súng mở đầu chiến dịch, năm cánh quân của ta đã vượt qua tuyến phòng thủ của địch để tiến vào trung tâm Sài Gòn, đánh chiếm các cơ quan đầu não của chúng. 10 giờ 45 phút ngày 30/4, xe tăng và bộ binh của ta tiến vào Dinh Độc Lập, bắt toàn bộ Nội các của Sài Gòn, Dương Văn Minh vừa lên chức tổng thống ngày 28/4 đã phải tuyên bố đầu hàng quân ta không điều kiện. Đến 11 giờ 30 phút cùng ngày, lá cờ cách mạng tung bay trên Dinh Độc Lập, báo hiệu sự toàn thắng của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

 Đại thắng mùa xuân 1975 đã chứng minh trí tuệ và tài thao lược của Đảng ta trong lãnh đạo và chỉ đạo chiến tranh cách mạng, cũng như chứng minh tinh thần quật khởi của người dân Việt Nam trong đấu tranh chống ngoại xâm. Chiến thắng đã chấm dứt ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc và chế độ phong kiến ở nước ta, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thống nhất đất nước, đồng thời mở ra một kỷ nguyên mới của dân tộc, cả nước cùng tiến lên CNXH. Thắng lợi này đã đi vào lịch sử nước ta và của thế giới, như một trang sử chói lọi ở những năm 70 của thế kỷ XX, mang tầm quốc tế, tầm thời đại sâu sắc.

          Đại thắng mùa xuân năm 1975, như nhận định của Đảng ta là một sự kiện quan trọng có tầm quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc, làm nức lòng bạn bè và nhân dân tiến bộ khắp năm châu bôn biển. Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại đại hội lần thứ IV cũng chỉ rõ: “Đối với thế giới, thắng lợi của nhân dân ta đã đập tan cuộc phản công lớn nhất của tên đế quốc đầu sỏ chĩa vào các lực lượng cách mạng kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, đẩy lùi trận địa của chủ nghĩa đế quốc, mở rộng trận địa của CNXH, phá vỡ một phòng tuyến quan trọng của đế quốc Mỹ ở Đông Nam Á, làm đảo lộn chiến lược toàn cầu phản cách mạng của chúng, đẩy Mỹ vào tình thế khó khăn chưa từng thấy, làm yếu hệ thống đế quốc chủ nghĩa, tăng thêm sức mạnh và thế tiến công của các trào lưu cách mạng thời đại, đem lại lòng tin và niềm phấn khởi cho hàng trăm triệu người trên khắp trái đất đang đấu tranh vì hòa bình độc lập dân tộc, dân chủ và CNHX”.

Cách mạng thế giới, đặc biệt phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, bao giờ cũng quanh co phức tạp nhưng không ngừng phát triển. Gần bốn thập kỷ qua, trong cục diện quốc tế đã mở ra một thời kỳ mới mà nhân dân tiến bộ gọi là “thời kỳ sau Việt Nam”. Việt Nam - ngọn cờ tiên phong, ngọn cờ vẫy gọi những người lao động nghèo khổ và các dân tộc bị áp bức trên thế giới đang đầy rẫy bất công và bạo ngược.

          Đại thắng mùa xuân năm 1975, như nhận định của Đảng ta là một sự kiện quan trọng có tầm quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc, làm nức lòng bạn bè và nhân dân tiến bộ khắp năm châu bôn biển. Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại đại hội lần thứ IV cũng chỉ rõ: “Đối với thế giới, thắng lợi của nhân dân ta đã đập tan cuộc phản công lớn nhất của tên đế quốc đầu sỏ chĩa vào các lực lượng cách mạng kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, đẩy lùi trận địa của chủ nghĩa đế quốc, mở rộng trận địa của CNXH, phá vỡ một phòng tuyến quan trọng của đế quốc Mỹ ở Đông Nam Á, làm đảo lộn chiến lược toàn cầu phản cách mạng của chúng, đẩy Mỹ vào tình thế khó khăn chưa từng thấy, làm yếu hệ thống đế quốc chủ nghĩa, tăng thêm sức mạnh và thế tiến công của các trào lưu cách mạng thời đại, đem lại lòng tin và niềm phấn khởi cho hàng trăm triệu người trên khắp trái đất đang đấu tranh vì hòa bình độc lập dân tộc, dân chủ và CNHX”.

Cách mạng thế giới, đặc biệt phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, bao giờ cũng quanh co phức tạp nhưng không ngừng phát triển. Gần bốn thập kỷ qua, trong cục diện quốc tế đã mở ra một thời kỳ mới mà nhân dân tiến bộ gọi là “thời kỳ sau Việt Nam”. Việt Nam - ngọn cờ tiên phong, ngọn cờ vẫy gọi những người lao động nghèo khổ và các dân tộc bị áp bức trên thế giới đang đầy rẫy bất công và bạo ngược.

III. TÌNH CẢM CỦA BÁC HỒ VỚI MIỀN NAM VÀ MIÊN NAM VỚI BÁC HỒ.

Thành phố Sài Gòn đã được vinh dự mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh, là mảnh đất yêu quý, nơi Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước.

Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, miền Nam - mảnh đất “đi trước về sau” kiên cường đánh giặc suốt mấy chục năm trường, từng chịu biết bao đau thương, gian khổ, được Bác Hồ gửi gắm những tình cảm tin cậy và yêu thương nhất ! Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành cho đồng bào miền Nam những tình cảm thiêng liêng cao quý nhất. Tình cảm ấy được nhà thơ Tố Hữu viết:

Bác nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà

Miền Nam mong Bác nỗi mong Cha

Bác nói: "Quê mình ở Nam Đàn, Nghệ An, nhưng mẹ mình mất ở xứ Huế, cha mình mất ở Cao Lãnh. Quê mình trải dài đất nước, ở những nơi như Phan Thiết, Sài Gòn trước lúc ra nước ngoài, mình đã từng sống và từng đến nơi. Nhưng nay về nước đã bao nǎm rồi, mà mình vẫn chưa về đến chốn"..."ở miền Nam, mỗi người, mỗi gia đình đều có một nỗi đau khổ riêng. Gộp nỗi đau khổ riêng của mỗi người, mỗi gia đình lại thì thành nỗi đau khổ của tôi".

Người trăn trở: “Một ngày mà Tổ quốc chưa thống nhất, đồng bào còn chịu khổ là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên”. Người luôn mong muốn được vào thăm nhân dân miền Nam. Và khi phải nằm trên giường bệnh, Người cũng mang theo mình hình ảnh miền nam.

Suốt mấy chục năm, không một phút nào là Bác không nghĩ đến đồng bào miền Nam và khi từ biệt thế giới này Bác cũng mang theo mình hơi ấm của miền Nam. Không một lời nào, không một từ nào và không có một cách nói nào để có thể kể hết được cái tình của Bác với miền Nam, mà chỉ biết rằng miền Nam yêu quý luôn ở trong trái tim của Bác.

Tấm lòng thương nhớ miền Nam của Người thể hiện trong việc chǎm sóc các cháu thiếu nhi miền Nam tập kết. Đặc biệt là tình cảm của Bác dành cho cán bộ chiến sĩ miền Nam, những người đang chiến đấu trên tuyến đầu chống Mỹ…

Người nhớ thương đồng bào miền Nam bao nhiêu, thì càng vui bấy nhiêu khi được gặp đại biểu của miền Nam. Năm 1962, Bác vui mừng được gặp Đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam do giáo sư Nguyễn Vǎn Hiếu dẫn đầu ra thǎm miền Bắc.

Được gặp Bác, các đồng chí mừng vui khôn xiết. Đồng chí Nguyễn Vǎn Hiếu, thay mặt đồng bào, đồng chí miền nam, kính dâng Bác những món quà quý. Sau khi nhận quà, Bác đặt bàn tay lên ngực trái và cảm động nói: "Bác chẳng có gì tặng lại cả, chỉ có cái này: Miền Nam yêu quý luôn luôn ở trong trái tim tôi".

Đầu xuân 1955, một số cán bộ từ miền Nam ra miền Bắc tập kết gồm ông  Nguyễn Thành Sen, Nguyễn Hồng Châu và Nguyễn Tấn Sinh được đồng bào trong Nam nhờ gửi tới Bác Hồ cây vú sữa, coi đó là tấm lòng của miền Nam với Bác.

Sáng mùng 2 Tết nǎm 1955, trong buổi gặp và chúc Tết Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch, các đồng chí Lê Đức Thọ, Nguyễn Vǎn Kỉnh thay mặt đồng bào miền Nam dâng tặng Bác. Bác đã trồng cây đó ngay cạnh ngôi nhà nhỏ ở góc vườn trong Phủ Chủ tịch.

Ông Nguyễn Thành Sen nhớ lại, năm 1958 khi chuyển về ở và làm việc tại nhà sàn, Người gợi ý chuyển cây vú sữa trồng cạnh nhà sàn để hàng ngày được nhìn thấy cây vú sữa của miền Nam, như luôn được gần đồng bào chiến sĩ miền Nam thân yêu… Hằng ngày ngồi làm việc, Bác vẫn nhìn thấy cây vú sữa được Người chǎm sóc vun trồng, ngày càng vươn cao và tươi tốt.

Vào năm 1963, khi Quốc hội quyết định trao tặng Hồ Chủ tịch Huân chương Sao Vàng - Huân chương cao quý nhất của Nhà nước ta - Bác đã cảm ơn Quốc hội và đề nghị cho phép chưa nhận phần thưởng cao quý này. Người nói: “Chờ đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc hoà bình thống nhất, Bắc - Nam sum họp một nhà, Quốc hội sẽ cho phép đồng bào miền Nam trao cho tôi Huân chương cao quý. Như vậy thì toàn dân sẽ sung sướng, vui mừng”

Tuy xa cách nhưng Bác Hồ luôn bên cạnh đồng bào miền Nam. Từng ngày, từng giờ và trong từng công việc lớn nhỏ, Người luôn hướng về miền Nam và dành sự quan tâm đặc biệt đối với cán bộ, chiến sĩ miền Nam tập kết, học sinh miền Nam đang sinh sống và học tập ở miền Bắc. Đặc biệt hơn nữa là tình cảm của Bác Hồ dành cho cán bộ chiến sĩ miền Nam, những người đang chiến đấu trên tuyến đầu chống Mỹ. Đáp lại tình thương yêu, tin tưởng của Bác Hồ, đồng bào miền Nam luôn làm theo lời Bác, thực hiện đến cùng sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Tình cảm của đồng bào miền Nam còn là sự nhớ thương, mong chờ, trông đợi được đón Bác Hồ vào miền Nam cùng vui niềm vui chiến thắng. Tình cảm máu thịt, sâu sắc của Bác Hồ với miền Nam và của đồng bào miền Nam với Bác Hồ như “chất men” xúc tác tạo thành một trong những nhân tố quyết định làm nên chiến thắng trong 2 cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, dẫn đến đại thắng mùa xuân năm 1975 giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, thực hiện trọn vẹn Di chúc thiêng liêng của Người.

Là người chuyên nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của Bác, bà Lê Thị Thanh Hải – nguyên Phó Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh – Chi nhánh TPHCM xúc động kể, khi hay tin Bác mất, rất nhiều bàn thờ được lập ra ngay giữa các vùng địch tạm chiếm. Ở giữa đô thị Sài Gòn, anh em xích lô sắp hàng ngồi mặc niệm Bác hay như việc người dân Nam Bộ lập bàn thờ Bác ở xã Long Đức, thị xã Trà Vinh, ở xã Viên An (huyện Ngọc Hiển, Minh Hải) xã Lương Tân, tỉnh Hậu giang và nhiều nơi khác nữa…

Đối với cô Huỳnh Thị Kim Trúc – Giảng viên môn đường lối Cách Mạng - Tư tưởng Hồ Chí Minh – trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật TPHCM luôn nhớ như in những vần thơ, câu nói của Bác đã giúp cho cô thêm niềm tin, nghị lực để giảng dạy sinh viên về cuộc đời và sự nghiệp của Bác Hồ kính yêu.

Yêu kính và nhớ thương Bác Hồ, là con cháu của Người, mỗi chúng ta nguyện ra sức học tập và làm theo tư tưởng của Người, xem đó là kim chỉ nam trên con đường phát triển của dân tộc, của đất nước trong thời đại mới. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là một việc làm lâu dài và phải xuất phát từ tư tưởng, nhận thức, tình cảm thiêng liêng đối với Bác.

Có như vậy, mới thấy hết được giá trị to lớn mà Người đã để lại cho con cháu đời sau, để từ đó noi theo gương Bác, học tập và hoàn thiện bản thân, đóng góp công sức của mình cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước này càng to đẹp hơn, đàng hoàng hơn như mong ước của Người./.

Ban Tuyên giáo Tỉnh Đoàn